Thương mại trong và ngoài nước

Các biện pháp trừng phạt, thương mại quốc tế và các quy tắc tuân thủ đầu tư có thể dẫn đến việc áp dụng các hạn chế nghiêm trọng đối với các doanh nghiệp. Vi phạm có thể dẫn đến rủi ro đáng kể, bao gồm trách nhiệm hình sự, tiền phạt, hình phạt, mất kinh doanh, tổn hại danh tiếng và một loạt các chi phí liên quan có thể khó định lượng.

Luật sư của chúng tôi giúp khách hàng vượt qua những thách thức này và cạnh tranh thành công trong thị trường phát triển và mới nổi trên thế giới. Chúng tôi tư vấn lớn về công nghiệp, công nghệ, sản phẩm tiêu dùng, sản xuất, phân phối và bán sản phẩm và dịch vụ của họ tại Việt Nam. Chúng tôi cũng giúp khách hàng lựa chọn, giám sát và quản lý mối quan hệ của họ với các nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà phân phối và đại lý bán hàng của bên thứ ba trong chuỗi cung ứng của họ.

Thông thạo luật pháp và thương mại, chúng tôi khuyên các công ty về các vấn đề tuân thủ như xử phạt thương mại, cũng như hợp đồng thương mại, yêu cầu ghi nhãn sản phẩm và xúc tiến bán hàng. Không có vấn đề gì, chúng tôi tập trung vào việc đơn giản hóa các yêu cầu thương mại phức tạp để khách hàng của chúng tôi có thể tập trung vào phát triển doanh nghiệp của họ.

Chúng tôi cung cấp đầy đủ các hỗ trợ cho khách hàng bao gồm:

  • Đánh giá các rủi ro tiềm ẩn liên quan đến các hợp đồng cụ thể, các mối quan hệ hoặc các dự án kinh doanh được đề xuất, bao gồm cả liên quan đến các biện pháp trừng phạt và đầu tư trực tiếp nước ngoài;
  • Tư vấn sáp nhập và mua lại, giao dịch với đại lý, nhà phân phối và các bên thứ ba khác. Điều này bao gồm việc tiến hành thẩm định, soạn thảo và đàm phán các biện pháp bảo vệ hợp đồng thích hợp và thiết lập hoạt động phù hợp, tuân thủ pháp luật;
  • Soạn thảo chính sách tuân thủ pháp luật và hỗ trợ khách hàng thực hiện các chính sách này;
  • Hỗ trợ khách hàng đối mặt với các cuộc điều tra hoặc truy tố pháp lý liên quan đến các biện pháp trừng phạt và các vi phạm pháp luật khác, bao gồm tiếp cận các cơ quan chức năng và đàm phán các khu định cư;
  • Theo dõi sự phát triển của cơ quan quản lý;
  • Cung cấp huấn luyện tuân thủ các biện pháp chế tài đối với ban quản lý cấp cao, ban giám đốc, nhân viên và đại lý.

Liên hệ

Đinh Quang Long

Luật sư điều hành

Phạm Hồng Mạnh

Luật sư thành viên

Bài viết liên quan

Dịch vụ tư vấn pháp luật thường xuyên cho Doanh nghiệp

Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp luôn phụ thuộc và bị điều chỉnh bởi các quy định pháp luật có liên quan. Để có thể hoạt động hiệu quả, doanh nghiệp cần kiểm soát tốt các rủi ro pháp lý phát sinh trong quá trình hoạt động của mình. Các doanh nghiệp lớn sẽ lựa chọn việc xây dựng một đội ngũ pháp chế với những luật sư giỏi để có thể hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện xin giấy phép, tư vấn pháp lý và giải quyết các tranh chấp về lao động trong quá trình vận hành của mình.

Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng tiềm lực tài chính để xây dựng bộ phận pháp chế cho công ty mình. Đối với những doanh nghiệp không có đội ngũ pháp chế riêng thì việc sử dụng dịch vụ tư vấn thường xuyên của các đơn vị pháp lý độc lập là sự lựa chọn thông minh.

Hiểu được vấn đề này, Apolat Legal mang đến cho các doanh nghiệp dịch vụ tư vấn pháp lý toàn diện với mức phí hợp lý. Mỗi doanh nghiệp khi lựa chọn dịch vụ tư vấn thường xuyên của Apolat Legal đều sẽ được sắp xếp một đội ngũ cố định trong suốt thời gian sử dụng dịch vụ. Bằng cách này, Apolat Legal đảm bảo sự thấu hiểu khách hàng và giúp khách hàng tiết kiệm thời gian và tránh việc phải cung cấp thông tin trung lập nhiều lần. Bên cạnh đó, doanh nghiệp chỉ phải trả một mức phí cố định hàng tháng để nhận được những tư vấn hữu ích từ Apolat Legal cho hầu hết các vấn đề pháp lý thường nhật mà doanh nghiệp cần.

Hoạt động tư vấn thường xuyên tại Apolat Legal bao gồm nhưng không giới hạn ở những nội dung công việc sau:

  • Giải đáp, tư vấn về các quy định, chính sách của pháp luật và đưa ra các giải pháp pháp lý, giải pháp thực tiễn cho các vụ việc cụ thể theo yêu cầu của Khách Hàng trong các lĩnh vực như đầu tư, xây dựng, bất động sản, đấu thầu, quản trị doanh nghiệp, thương mại điện tử, hợp đồng, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, thương mại trong và ngoài nước, lao động, kinh doanh, sở hữu trí tuệ và các lĩnh vực khác liên quan đến mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Khách Hàng.
  • Xem xét, rà soát và xác nhận tính hợp pháp của các văn bản, tài liệu giao dịch do Khách Hàng soạn thảo hoặc thực hiện liên quan đến hoạt động kinh doanh cũng như góp ý cho các văn bản, tài liệu đó theo yêu cầu của Khách Hàng.
  • Hỗ trợ Khách Hàng trong việc chuẩn bị các tài liệu phục vụ thương thảo, đàm phán hợp đồng (nếu có yêu cầu).
  • Hỗ trợ Khách Hàng soạn thảo các văn bản, tài liệu giao dịch liên quan tới hoạt động kinh doanh của Khách Hàng với bên thứ ba.
  • Tư vấn cho Khách Hàng các vấn đề pháp lý liên quan đến các cuộc thảo luận, thương lượng, đàm phán kinh doanh, các vụ khiếu nại, khiếu kiện hay tranh chấp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc bên thứ ba liên quan đến hoạt động kinh doanh của Khách Hàng. Phạm vi tư vấn không bao gồm việc đại diện thực hiện các công việc cụ thể hoặc đại diện tham gia giải quyết tranh chấp hoặc khiếu nại tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tòa án hoặc trọng tài.
  • Tư vấn cho Khách Hàng về hướng giải quyết chung liên quan đến các vụ khiếu nại, khiếu kiện hay tranh chấp cụ thể.
  • Trong trường hợp có bất kì đối tác của Khách Hàng cần sự trợ giúp pháp lý, theo yêu cầu của Khách Hàng hoặc theo yêu cầu của đối tác đó, chúng tôi sẽ xem xét hỗ trợ cung cấp các dịch vụ pháp lý cho các đối tác của Khách Hàng; nếu đồng ý cung cấp, chúng tôi sẽ cam kết không gây bất kỳ thiệt hại nào tới Khách Hàng hoặc bất kỳ xung đột quyền và nghĩa vụ hợp pháp nào giữa Khách Hàng và đối tác đó.
  • Hỗ trợ, tư vấn cho Khách Hàng trong việc xây dựng, soạn thảo Điều lệ, Nội quy lao động và các quy chế về tổ chức quản lý, điều hành của bộ máy doanh nghiệp và các văn bản quan trọng khác của Khách Hàng trong quá trình hoạt động.

Với dịch vụ chuyên nghiệp, tận tâm và kinh nghiệm trong nhiều lĩnh vực pháp luật, Apolat Legal là người bạn đồng hành đáng tin cậy của mọi doanh nghiệp.

Read more...

Những điểm mới đáng chú ý về giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế

1. Đã có Nghị định 21/2021/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Dân sự 2015 về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ 

Vào ngày 19/03/2021, Chính phủ ban hành Nghị định 21/2021/ND hướng dẫn Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Theo Nghị định này, tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ gồm:

  • Tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai, trừ trường hợp Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan cấm mua bán, cấm chuyển nhượng hoặc cấm chuyển giao khác về quyền sở hữu tại thời điểm xác lập hợp đồng bảo đảm, biện pháp bảo đảm; 
  • Tài sản bán trong hợp đồng mua bán tài sản có bảo lưu quyền sở hữu;
  • Tài sản thuộc đối tượng của nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ bị vi phạm đối với biện pháp cầm giữ;
  • Tài sản thuộc sở hữu toàn dân trong trường hợp pháp luật liên quan có quy định.

Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm, Nghị định 11/2012/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP sẽ hết hiệu lực kể từ ngày 15/5/2021. Tuy nhiên, những Nghị định này vẫn có hiệu lực áp dụng đối với Hợp đồng bảo đảm, biện pháp bảo đảm được xác lập, thực hiện trước ngày có hiệu lực của Nghị định 21/2021/ND-CP.

Các bên vẫn có thể thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng bảo đảm, biện pháp bảo đảm phù hợp với Nghị định 21/2021/NĐ-CP và áp dụng quy định của Nghị định 21/2021/NĐ-CP.

Nghị định 21/2021/NĐ-CP của Chính phủ sẽ có hiệu lực từ ngày 15/5/2021. 

2. Những điểm mới đáng chú ý về giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế 

Vào ngày 18/3/2021, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 19/2021/TT-BTC về hướng dẫn giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế, cụ thể như sau:

  • Thông tư quy định nguyên tắc giao dịch thuế điện tử. Theo đó, người nộp thuế thực hiện giao dịch thuế điện tử phải có khả năng truy cập và sử dụng Internet, có địa chỉ thư điện tử, có chữ ký số hoặc có số điện thoại di động được một công ty viễn thông ở Việt Nam cấp đã đăng ký sử dụng để giao dịch với cơ quan Thuế trừ trường hợp người nộp thuế lựa chọn phương thức nộp thuế điện tử theo quy định của ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán.
  • Có nhiều phương thức giao dịch thuế điện tử để người nộp thuế lựa chọn như: Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế; Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng TTĐT Bộ Tài chính đã được kết nối với Cổng TTĐT Tổng cục Thuế; Cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác đã được kết nối với Cổng TTĐT Tổng cục Thuế; Tổ chức cung cấp dịch vụ T-VAN được Tổng cục Thuế chấp nhận kết nối với Cổng TTĐT Tổng cục Thuế; Dịch vụ thanh toán điện tử của ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán để thực hiện nộp thuế điện tử.
  • Bộ Tài chính quy định, người nộp thuế có thể thực hiện các giao dịch thuế điện tử 24/7, bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ và ngày tết. Ngược lại, thời gian cơ quan Thuế gửi thông báo, quyết định, văn bản cho người nộp thuế được xác định là trong ngày nếu hồ sơ được ký gửi thành công trong cả 24 giờ mỗi ngày.

Một số điểm đáng lưu ý mà không thuộc phạm vi điều chỉnh của Thông tư:

  • Giao dịch điện tử về hóa đơn theo quy định của Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ về hóa đơn, chứng từ.
  • Giao dịch điện tử về thuế của nhà cung cấp ở nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số và các dịch vụ khác với tổ chức, cá nhân ở Việt Nam.
  • Giao dịch điện tử về thuế đối với hàng hóa ở khâu xuất khẩu, nhập khẩu tại cơ quan Hải quan.

Ngoài ra, Thông tư còn hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế trong các trường hợp sau:

  • Giao dịch trong lĩnh vực thuế giữa người nộp thuế với cơ quan thuế bằng phương thức điện tử;
  • Giao dịch điện tử giữa cơ quan thuế với các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, với các tổ chức có liên quan trong việc tiếp nhận, cung cấp thông tin và giải quyết các thủ tục hành chính thuế cho người nộp thuế theo quy định tại Luật Quản lý thuế và theo cơ chế một cửa liên thông;
  • Kết nối giữa Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế với hệ thống trao đổi thông tin của tổ chức cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng về giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế; thực hiện giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế qua tổ chức cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng về giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế;
  • Cung cấp, trao đổi thông tin phối hợp công tác bằng phương thức điện tử của cơ quan thuế với cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác liên quan đến việc tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính thuế của người nộp thuế.

Thông tư 19/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính sẽ có hiệu lực từ ngày 03/05/2021.

3. Hướng dẫn xử lý đối với hồ sơ thực hiện thủ tục đầu tư giả mạo           

Vào ngày 26/03/2021, Chính phủ ban hành Nghị định 31/2021/ND-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Đầu Tư 2020. Theo đó, Nghị định 31 quy định khi được cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật xác định có nội dung giả mạo trong hồ sơ thực hiện thủ tục đầu tư, cơ quan đăng ký đầu tư thực hiện thủ thục sau:

  • Thông báo bằng văn bản cho nhà đầu tư về hành vi vi phạm;
  • Huỷ bỏ hoặc báo cáo cơ quan, người có thẩm quyền xem xét huỷ bỏ Quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư, Quyết định chấp thuận nhà đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài và các văn bản có liên quan khác đã được cấp lần đầu hoặc huỷ bỏ nội dung văn bản, giấy tờ được ghi trên cơ sở các thông tin giả mạo;
  • Khôi phục lại văn bản, giấy tờ được cấp trên cơ sở hồ sơ hợp lệ gần nhất, đồng thời xử lý hoặc báo cáo cơ quan, người có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật.

Nhà đầu tư chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật về mọi thiệt hại phát sinh đối với hành vi giả mạo nội dung hồ sơ, tài liệu.

Nghị định 31/2021/ND-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư 2020 có hiệu lực kể từ ngày ký là ngày 26/03/2021.

Tải Cập nhật pháp lý tại đây. 

Read more...

Các vấn đề cần lưu ý đối với thỏa thuận trọng tài trong các hợp đồng thương mại

Trong xu thế hiện nay, các tổ chức kinh tế khi giao kết hợp đồng thương mại thường lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại. Với ưu điểm là sự chủ động về thời gian, địa điểm giải quyết tranh chấp, quyền chủ động chọn luật áp dụng, tính bảo mật thông tin cao cũng như sự linh hoạt, mềm dẻo trong việc lựa chọn ngôn ngữ áp dụng khiến trọng tài thương mại trở thành một phương thức giải quyết tranh chấp vượt trội. Tuy nhiên, đã có nhiều trường hợp các bên chọn trọng tài thương mại là cơ quan giải quyết khi có tranh chấp, nhưng đến khi xảy ra tranh chấp thì cơ quan trọng tài được chọn không có thẩm quyền giải quyết vụ việc do thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thể thực hiện được. Bài viết này đề cập đến các vấn đề cần lưu ý của điều khoản trọng tài trong hợp đồng thương mại.

Theo quy định của Luật Trọng Tài Thương Mại “Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp[1]. Do đó , việc hình thành một thỏa thuận trọng tài là điều kiện tiên quyết và bắt buộc làm căn cứ phát sinh thẩm quyền giải quyết của Trọng tài. Một thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức một điều khoản cụ thể tại hợp đồng thương mại hoặc thỏa thuận độc lập bằng văn bản hoặc hình thức tương đương văn bản[2]. Thỏa thuận trọng tài sẽ vẫn có hiệu lực kể cả khi hợp đồng có thay đổi, gia hạn, hủy bỏ, bị vô hiệu toàn phần hoặc không thể thực hiện được. Tuy nhiên, thỏa thuận trọng tài thương mại sẽ bị vô hiệu trong các trường hợp:

  • Thỏa thuận trọng tài được xác lập để giải quyết tranh chấp không thuộc lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Trọng tài;
  • Người xác lập thỏa thuận trọng tài không phải là người đại diện theo pháp luật hoặc không phải là người được ủy quyền hợp pháp hoặc là người được ủy quyền hợp pháp nhưng vượt quá phạm vi được ủy quyền, trừ trường hợp trong quá trình xác lập, thực hiện thỏa thuận trọng tài hoặc trong tố tụng trọng tài mà người có thẩm quyền xác lập đã chấp nhận hoặc đã biết mà không phản đối;
  • Người xác lập thỏa thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự, bao gồm: người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người hạn chế năng lực hành vi dân sự;
  • Thỏa thuận trọng tài không được xác lập bằng một trong các hình thức quy định;
  • Một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài;
  • Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.

Ngoài ra, các bên cần lưu ý các vấn đề sau đây để tránh trường hợp thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được[3]:

  • Trung tâm trọng tài được các bên thỏa thuận đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức kế thừa và các bên không thể thỏa thuận được Trung tâm trọng tài khác giải quyết;
  • Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan dẫn đến Trọng tài viên không thể tham gia giải quyết tranh chấp; hoặc Trung tâm trọng tài, Tòa án không thể tìm được Trọng tài viên như các bên thỏa thuận và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế;
  • Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, Trọng tài viên từ chối việc được chỉ định hoặc Trung tâm trọng tài từ chối việc chỉ định Trọng tài viên và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế;
  • Các bên có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài nhưng lại thỏa thuận áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác và điều lệ của Trung tâm trọng tài do các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp không cho phép áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác và các bên không thỏa thuận được về việc lựa chọn Quy tắc tố tụng trọng tài thay thế;
  • Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng có điều khoản về thỏa thuận trọng tài được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn quy định tại Điều 17 Luật Trọng Tài Thương Mại nhưng khi phát sinh tranh chấp, người tiêu dùng không đồng ý lựa chọn Trọng tài giải quyết tranh chấp.

Trong trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thực hiện được, thẩm quyền giải quyết đương nhiên thuộc về Tòa án. Theo đó, một trong các bên được quyền khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu giải quyết tranh chấp.

Bên cạnh đó, theo kinh nghiệm thực tế và các hoạt động xét xử tại Việt Nam, điều khoản trọng tài nên lưu ý thêm một số các nội dung sau:

  • Thứ nhất, trong trường hợp các bên đã có thỏa thuận trọng tài bằng một điều khoản trọng tài cụ thể nhưng tại điều khoản này không đề cập đến hình thức trọng tài (Trọng tài vụ việc hay Trọng tài thường trực) hoặc không xác định được chính xác tên của tổ chức trọng tài thì pháp luật trọng tài cho phép các bên được quyền thỏa thuận lại. Tuy nhiên, nếu các bên tranh chấp không tìm được tiếng nói chung thì tổ chức trọng tài và hình thức trọng tài tương ứng sẽ được thực hiện theo yêu cầu của Nguyên đơn (bên khởi kiện).[4];
  • Thứ hai, như đề cập tại phần đầu bài viết, việc được lựa chọn luật áp dụng là một trong những ưu điểm của trọng tài thương mại. Tuy nhiên, việc chọn luật áp dụng phải tuân theo nguyên tắc tranh chấp không có yếu tố nước ngoài thì áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết, và những tranh chấp có yếu tố nước ngoài thì áp dụng pháp luật do các bên lựa chọn. Nếu các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì Hội đồng trọng tài quyết định áp dụng pháp luật cho là phù hợp nhất[5];
  • Thứ ba, mặc dù các bên được quyền lựa chọn ngôn ngữ trong tố tụng trọng tài, nhưng cần lưu ý rằng đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài ngôn ngữ được sử dụng là tiếng Việt, trừ tranh chấp có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài thì ngôn ngữ sử dụng do các bên thỏa thuận[6];
  • Cuối cùng, trọng tài thương mại cho phép lựa chon địa điểm giải quyết tranh chấp trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam. Đây là điểm cần lưu ý để các bên có thể giảm thiểu chi phí phát sinh trong quá trình tham gia tố tụng. Trường hợp không có thoả thuận về địa điểm giải quyết tranh chấp thì Hội đồng trọng tài sẽ có quyền quyết định địa điểm[7].

Việc không quy định các vấn đề nêu trên tại điều khoản trọng tài từ đầu sẽ không làm cho thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu hay không thể thực hiện được. Tuy vậy, nếu điều khoản trọng tài càng rõ ràng và chi tiết sẽ hạn chế việc các bên không đồng nhất các tiêu chí cần bổ sung dẫn đến sự bị động của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại. Đồng thời, việc xác định rõ các tiêu chí giải quyết tranh chấp sẽ giúp các bên chủ động hơn khi phát sinh tranh chấp.

Xin đề cập thêm rằng, thực tiễn cũng tồn tại việc các bên vừa thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại vừa tại tòa án. Trường hợp này, nếu thỏa thuận Trọng tài không vô hiệu và có thể thực hiện được thì các bên vẫn được quyền nộp đơn khởi kiện tại cơ quan trọng tài. Tuy nhiên, nếu đã có đơn khởi kiện tại Tòa án và Tòa án đã thụ lý giải quyết theo thủ tục chung mà không có bất kỳ hành động khởi kiện tại Trọng tài nào trước đó thì đương nhiên Trọng tài không còn thẩm quyền giải quyết[8].

Tóm lại, để điều khoản trọng tài có hiệu lực pháp lý và là cơ sở để giải quyết tranh chấp tại cơ quan Trọng tài, các bên nên lưu ý các nội dung được đề cập tại bài viết này cũng như tham khảo các điều khoản mẫu của các cơ quan trọng tài.

Xem thêm: Nỗ lực tốt nhất trong thực hiện hợp đồng.

[1] Khoản 1, Điều 5, Luật Trọng tài thương mại 2010 (“Luật TTTM”).

[2] Khoản 1, Điều 16, Luật TTTM.

[3] Điều 4, Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP.

[4] Khoản 5, Điều 43, Luật TTTM.

[5] Điều 14, Luật TTTM.

[6] Điều 10, Luật TTTM.

[8] Điểm b, khoản 4, Điều 2, Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP.

Read more...

Bảo vệ bí mật kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam

Bí mật kinh doanh là một loại tài sản sở hữu trí tuệ (IPR) có giá trị cao và hữu ích. Theo Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO), mọi bí mật có được trong hoạt động kinh doanh (ví dụ: phương thức bán hàng, phương thức phân phối, thông tin người dùng, chiến lược quảng cáo, danh sách nhà cung cấp và khách hàng, quy trình sản xuất, v.v.) mà chúng có giá trị thương mại lớn đối với các doanh nghiệp và tạo cho doanh nghiệp một lợi thế cạnh tranh đáng kể, đều có thể được coi là bí mật kinh doanh. Bí mật kinh doanh bao gồm bí mật sản xuất, bí mật công nghiệp cũng như bí mật thương mại, bao gồm bí quyết kỹ thuật, sản phẩm mới hoặc mô hình kinh doanh, hướng dẫn vận hành kinh doanh, công thức, thông tin khách hàng và nhà cung cấp, kỹ thuật đặc biệt được sử dụng bởi một doanh nghiệp trong sự phát triển của một sản phẩm hoặc dịch vụ, sẽ đều được bảo vệ chặt chẽ bởi các chủ sở hữu của nó.

Thông thường có ba điều kiện chung mà một thông tin cần đáp ứng để được xem là bí mật kinh doanh theo Điều 39 của Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS), theo đó một bí mật kinh doanh thường được định nghĩa là thông tin:

(a) thông tin không được rộng rãi công chúng biết đến (được giữ như một bí mật);

(b) tạo ra lợi ích kinh tế cho người nắm giữ nó (trong đó lợi ích này phải xuất phát cụ thể từ thông tin không được biết đến nói chung, không chỉ từ giá trị của thông tin – nói cách khác: nó phải có giá trị thương mại vì đó là bí mật);

(c) người nắm giữ thông tin có những nỗ lực hợp lý để bảo vệ sự bí mật của thông tin đó (ví dụ: thông qua các thỏa thuận bảo mật).

Tại Việt Nam, theo Luật Sở hữu Trí tuệ 2005 sửa đổi 2009, bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh.

Bí mật kinh doanh được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

  1. Không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được;
  1. Khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ bí mật kinh doanh lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó;
  1. Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh đó không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được.

Tư phân tích bên trên, có thể thấy rằng các điều kiện để thông tin được xem là bí mật kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam là tương tự với các điều kiện được đưa ra bởi Hiệp định TRIPS.

Thông thường, các thông tin bí mật sau đây sẽ không được bảo hộ với danh nghĩa bí mật kinh doanh:

  1. Bí mật về nhân thân;
  1. Bí mật về quản lý nhà nước;
  1. Bí mật về quốc phòng, an ninh;
  1. Thông tin bí mật khác không liên quan đến kinh doanh.

Chủ sở hữu bí mật kinh doanh là tổ chức, cá nhân có được bí mật kinh doanh một cách hợp pháp và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó. Bí mật kinh doanh mà bên làm thuê, bên thực hiện nhiệm vụ được giao có được trong khi thực hiện công việc được thuê hoặc được giao thuộc quyền sở hữu của bên thuê hoặc bên giao việc, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.

Chủ sở hữu của bí mật kinh doanh có thể:

(a) Áp dụng bí mật kinh doanh để sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ, thương mại hàng hoá;

(b) Bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu sản phẩm được sản xuất do áp dụng bí mật kinh doanh.

Theo quy định của Luật Sở hữu Trí tuệ, các hành vi sau sẽ bị xem là hành vi xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh:

(i) Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người kiểm soát hợp pháp bí mật kinh doanh đó;

(ii) Bộc lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó;

(iii) Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, xui khiến, mua chuộc, ép buộc, dụ dỗ, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập hoặc làm bộc lộ bí mật kinh doanh;

(iv) Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người nộp đơn theo thủ tục xin cấp phép kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của cơ quan có thẩm quyền;

(v) Sử dụng, bộc lộ bí mật kinh doanh dù đã biết hoặc có nghĩa vụ phải biết bí mật kinh doanh đó do người khác thu được có liên quan đến một trong các hành vi quy định tại các điểm i, ii, iii and iv mục này;

(vi) Không thực hiện nghĩa vụ bảo mật.

Tuy nhiên, quyền của chủ sở hữu bí mật kinh doanh không phải là vô hạn. Theo đó, chủ sở hữu bí mật kinh doanh không được quyền ngăn cấm người khác:

(i) Bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh thu được khi không biết và không có nghĩa vụ phải biết bí mật kinh doanh đó do người khác thu được một cách bất hợp pháp;

(ii) Bộc lộ dữ liệu bí mật nhằm bảo vệ công chúng;

(iii) Sử dụng dữ liệu bí mật không nhằm mục đích thương mại;

(iv) Bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh được tạo ra một cách độc lập; và

(v) Bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh được tạo ra do phân tích, đánh giá sản phẩm được phân phối hợp pháp với điều kiện người phân tích, đánh giá không có thoả thuận khác với chủ sở hữu bí mật kinh doanh hoặc người bán hàng.

Làm thế nào để bảo vệ bí mật kinh doanh 

Các thông tin càng quan trọng thì các yêu cầu bảo mật càng cao. Do đó, chủ sở hữu thông tin cần tiến hành phân loại các thông tin thương mại quan trọng với công ty để tạo ra được một giải pháp bảo vệ tổng thể khả thi.

Các giải pháp bảo mật bao gồm nhưng không giới hạn:

  • Các biện pháp kỹ thuật như hệ thống bảo mật CNTT phù hợp, các rào cản truy cập, mã hóa thông tin liên lạc giữa những người cùng nắm thông tin, các điều khoản bảo mật trong hợp đồng lao động với nhân viên và trong các thỏa thuận với đối tác kinh doanh.
  • Phát triển văn hóa công ty xem trọng việc bảo vệ bí mật thương mại ở tất cả các cấp của tổ chức và tại tất cả các bộ phận của công ty. Bảo vệ bí mật thương mại phải được công nhận là một vấn đề cần tuân thủ nghiêm.
  • Chuẩn hóa các điều khoản hợp đồng liên quan đến bí mật thương mại để thiết lập các mức bảo vệ tối thiểu, bảo vệ vừa đủ và các mức độ bảo vệ nâng cao khi hoàn cảnh yêu cầu.
  • Nắm vững các quy định tại các khu vực pháp lý. Luật pháp giữa các khu vực thường không giống nhau hoàn toàn về cách định nghĩa các thông tin được xem là bí mật kinh doanh và các biện pháp cần thiết để bảo vệ chúng. Do đó, điều quan trọng là phải nắm vững các quy định pháp lý liên quan đến việc bảo vệ các bí mật thương mại tại khu vực nơi mà các thông tin bí mật kinh doanh có thể được sử dụng.
  • Tiến hành thường xuyên các khóa đào tạo về thông tin bí mật để đảm bảo rằng nhân viên của bạn nắm được đầy đủ về các loại thông tin bí mật của công ty.
  • Xây dựng kế hoạch về cách ứng phó trong trường hợp có các vi phạm về việc bảo vệ bí mật kinh doanh.
  • Luôn gợi nhắc về các chính sách và quy trình bảo vệ bí mật kinh doanh của công ty.
  • Quan tâm đặc biệt đến việc sử dụng các thiết bị cá nhân, tài khoản email cá nhân và các chương trình/thư mục chia sẻ tệp khác.
  • Hạn chế quyền truy cập vào thông tin bí mật cho những cá nhân trên cơ sở cần biết.
Read more...

    Liên hệ Apolat Legal