Trang chủ

Giao dịch đáng chú ý gần đây

Apolat Legal đã tư vấn nhiều giao dịch định hình thị trường trên một loạt các ngành công nghiệp trong lĩnh vực năng lượng, thương mại điện tử, công nghệ, bán lẻ, hậu cần, bất động sản, …

Xem thêm

Sáp nhập và đầu tư

  • Đầu tư nước ngoài
  • Tuân thủ pháp luật
  • Mua bán & Sáp nhập
  • Chi tiết

Thương mại trong và ngoài nước

  • Thương mại quốc tế
  • Mua bán
  • Phân phối
  • Chi tiết

Giải quyết tranh chấp

Lao động

  • Lao động quốc tế
  • Phúc lợi
  • Quản lý nhân sự
  • Chi tiết

Sở hữu trí tuệ

  • Nhượng quyền thương mại
  • Nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp
  • Bản quyền và bằng sáng chế
  • Chi tiết

Bất động sản

  • Bất động sản
  • Cơ sở hạ tầng
  • Giao dịch thuê
  • Chi tiết

Hợp tác quốc tế

apolat-legal-international-law-firm

Apolat Legal chính thức trở thành thành viên độc quyền của MSI Global Alliance (MSI) tại Việt Nam.

1111-01-300x100
asialaw-logo-red 200
26219684_1906291599444458_1493727444978141422_n
lawasia-01-300x100

Chúng tôi luôn tin rằng

Tại Apolat Legal, sự đa dạng, hòa nhập và bình đẳng là một phần trong cách sống và giá trị của chúng tôi.

Chúng tôi áp dụng các giá trị vào tất cả các hoạt động của chúng tôi trên toàn cầu. Các giá trị đó phản ánh văn hóa và tính cách của chúng tôi cả bên trong lẫn bên ngoài, cách chúng tôi làm việc và những gì chúng tôi đại diện. 

Tầm nhìn của chúng tôi

Chính trực, Thấu hiểu và Không ngừng đổi mới

Chúng tôi trong thập kỷ tới là đối tác pháp lý hàng đầu của các doanh nghiệp tầm trung với các cam kết về sự chính trực, thấu hiểu và không ngừng đổi mới. Đây sẽ là bước đệm cho tương lai dẫn đầu thị trường pháp lý tại Việt Nam.

Khách hàng của chúng tôi

Tận tâm và Chuyên nghiệp

Đồng đội của chúng tôi

Đoàn kết, Đa dạng, Hỗ trợ và Tin tưởng

Môi trường làm việc của chúng tôi

Cởi mở và Tôn trọng sự khác biệt

Công việc của chúng tôi

Tập trung, Quyết tâm, Tham vọng

Cộng đồng xung quanh chúng tôi

Trách nhiệm và Tôn trọng sự đa dạng

Cập nhật mới nhất

Tin tức

Apolat Legal thiết lập mối quan hệ hợp tác chiến lược với Marbury Corporate Advisory Services Limited

Chúng tôi vui mừng thông báo rằng Apolat Legal đã thiết lập mối quan hệ hợp tác chiến lược với Marbury Corporate Advisory Services Limited, một nhà cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp tại Hồng Kông.

Marbury cung cấp năm dịch vụ chính bao gồm Dịch vụ Doanh nghiệp, Giải pháp Doanh nghiệp, Dịch vụ Quỹ, Tư vấn Doanh nghiệp, Dịch vụ Kế toán và Kiểm toán. Với mạng lưới toàn cầu, Marbury có thể hỗ trợ Khách hàng thành lập công ty ở nhiều quốc gia như:

  • Quần đảo British Virgin
  • Quần đảo Cayman
  • Vương quốc Anh
  • Đảo Marshall
  • Bermuda
  • Singapore
  • Hồng Kông

Ngoài ra, Marbury với đội ngũ các chuyên gia và nhà quản trị có chuyên môn về pháp lý và kế toán để cung cấp các giải pháp và dịch vụ tốt nhất cho Khách Hàng. Để biết thông tin chi tiết về Marbury, vui lòng tham khảo tại website https://marburys.com/about-us/company/.

Apolat Legal hy vọng rằng sự hợp tác này sẽ mở ra nhiều cơ hội và củng cố giá trị của cả hai công ty, vì lợi ích của các khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng.

Read more...

Bản tin nhân sự tháng 6 năm 2021

Chào mừng 03 thành viên mới gia nhập đội ngũ Apolat Legal:

Chị Đinh Hồ Nhị Hà 

Chị Hà tốt nghiệp chuyên ngành Luật Thương mại quốc tế tại Trường Đại học Kinh tế – Luật vào năm 2018. Trước khi gia nhập Apolat Legal, chị Hà có 02 năm làm việc ở vị trí trợ lý luật sư tại công ty luật, hoạt động chính ở các lĩnh vực giải quyết tranh chấp, thương mại, sở hữu trí tuệ; và 01 năm làm việc tại vị trí luật sư nội bộ của doanh nghiệp, phụ trách soạn thảo và rà soát hợp đồng thương mại.

Chị Lê Hoàng Bảo Yến

Chị Lê Hoàng Bảo Yến tốt nghiệp Cử nhân Khoa Luật – Trường Đại học Tôn Đức Thắng (2020).

Chị Yến đã hoàn thành tốt kỳ thực tập tại Apolat Legal từ khi còn là một sinh viên năm ba. Trong khoảng thời gian thực tập, Chị đã nhận được sự đánh giá tốt từ các Luật sư Thành viên và Cộng sự. Sự làm quen và thích nghi với với những công việc thường ngày đối với một thực tập sinh như rà soát, dịch, nghiên cứu quy định, làm việc với cơ quan nhà nước đã giúp ích rất nhiều khi Chị làm việc với vị trí là Trợ lý Luật sư. 

Không dừng lại ở đó, trong tương lai, Chị Yến sẽ tập trung nâng cao chuyên môn với tinh thần cầu tiến, học hỏi và hoàn thiện các kỹ năng mềm cần thiết để nâng cao triển vọng nghề nghiệp khi trở thành một Luật sư. 

Anh Đặng Nguyễn Nguyên Thanh 

Anh Thanh tốt nghiệp Chương trình Cử nhân chuyên ngành Luật Kinh tế tại Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia Việt Nam. Trong quá trình học tập và theo đuổi nghề luật, Anh đã tích lũy kinh nghiệm hành nghề thực tiễn tại một số công ty luật, doanh nghiệp cũng như tại tòa án. Trước khi gia nhập Apolat Legal, Anh Thanh đã làm việc tại một số công ty luật chuyên nghiệp và đồng thời gặt hái được một số chứng chỉ để mở rộng nền tảng học thuật của mình.

Vào tháng 2, 2021, Anh Thanh gia nhập Apolat Legal với tư cách là một Chuyên viên Pháp lý để tiếp tục nâng cao kiến thức pháp lý và kỹ năng thực tiễn cũng như theo đuổi con đường hành nghề luật của mình với mục tiêu trở thành một luật sư quốc tế chuyên nghiệp.

Read more...

Hội thảo: Đầu tư sang Singapore-Góc nhìn pháp lý

Hệ thống luật pháp của Singapore được công nhận về tính công bằng, liêm chính và hiệu quả – làm cho Singapore trở thành một trong những quốc gia tốt nhất trên toàn cầu để bắt đầu và điều hành một doanh nghiệp. Nhóm Ngân hàng Thế giới đã công nhận điều này trong báo cáo Kinh doanh hàng năm của mình, nơi họ nhận thấy môi trường pháp lý của Singapore là thân thiện với doanh nghiệp nhất.

🏆 Với hàng chục năm kinh nghiệm, am hiểu thị trường, luật pháp Singapore đặc biệt là về Luật công ty, Luật kế toán và các thủ tục xuất nhập khẩu, quy định về thuế và những quy ước, phương thức giao dịch tại Singapore, đội ngũ chuyên gia của VietCham kết hợp cùng đội ngũ của hãng Luật Apolat Legal tổ chức buổi hội thảo trao đổi về góc nhìn pháp lý ở Việt Nam và Singapore trong việc đầu tư ra nước ngoài. Hy vọng sẽ đem lại những ý kiến tư vấn hữu ích cho doanh nghiệp.

🎯Nội dung chương trình:
10:00– 10h15: Đón tiếp và giao lưu khách mời.
10:15 – 10h35: Chia sẻ về môi trường Luật pháp tại Singapore và cập nhật các quy định mới hiện hành do ông Max Nguyen – Phó Giám đốc VietCham Singapore chia sẻ.
10:40 – 11h00: Quy định pháp luật Việt Nam liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài do ông Phạm Hồng Mạnh – Luật sư Thành Viên Công ty Luật TNHH Apolat Legal chia sẻ.
11h00-11h30: Hỏi đáp trực tiếp.

🎯 Hình thức: Hội thảo OFFLINE chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn và hỏi đáp

🎯 Cách tham gia:
1. Đăng ký theo form dưới đây : https://forms.gle/2ijvpWtbuqeXtZwK9 
2. Thời gian: 10h00 sáng thứ 4, ngày 05/05/2021
3. Địa điểm tổ chức: Lầu 5, IMM Group – 99 Nguyễn Đình Chiểu, Phường 6, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh.

🎯Thông tin liên hệ:

👉Công ty Luật TNHH Apolat Legal
+84911357447
(Viber / WhatsApp / Zalo / Call)
Website: www.apolatlegal.com
Email: info@apolatlegal.com

👉Thành lập & vận hành công ty Singapore với VietCham Singapore: (+84) ‎0901006565 hoặc (+84) 0848006565 (Zalo/Viber/WhatsApp/WeChat/Call/SMS)
Website: www.MoCongtySingapore.com
Facebook page: facebook.com/MoCongTySingapore
Email: contact@vietcham.org.sg

Read more...

Bài viết

Vấn đề pháp lý về vay vốn nước ngoài và phương thức chuyển tiền

Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước nhà đang có những chuyển biến tích cực, nhu cầu huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp tăng cao. Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng có sẵn nguồn vốn để tiếp tục đầu tư phát triển nên việc sử dụng các khoản vay từ nhiều nguồn khác nhau luôn là một phương án hữu hiệu trong việc quản lý tài chính doanh nghiệp. Hiện nay, bên cạnh việc vay vốn từ các ngân hàng trong nước, các doanh nghiệp thường tìm cách tiếp cận và vay vốn từ nước ngoài để mở rộng sản xuất, phát triển các hoạt động kinh doanh và các dự án đầu tư. Trong khuôn khổ quản lý nợ nước ngoài của Chính phủ Việt Nam và quy định pháp luật hiện hành, doanh nghiệp đi vay khi thực hiện vay, trả nợ nước ngoài phải tuân thủ các điều kiện vay, trả nợ nước ngoài; thực hiện đăng ký khoản vay, mở và sử dụng tài khoản, rút vốn và chuyển tiền, báo cáo tình hình thực hiện khoản vay theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Mặc dù hiện nay hầu hết các các doanh nghiệp đi vay đã thực hiện đúng các quy định về vay, trả nợ nước ngoài này, tuy nhiên vẫn còn một số doanh nghiệp chưa tìm hiểu kỹ dẫn đến hiểu sai quy định khi thực hiện khoản vay nước ngoài và dẫn đến một số hậu quả đáng tiếc. Hiểu được vấn đề này, trong phạm vi bài viết này chúng tôi sẽ nêu rõ một số lưu ý mà Bên Đi Vay cần nắm rõ và tuân thủ khi vay, trả nợ nước ngoài không được Chính phủ bảo lãnh, để hạn chế sai sót và vi phạm.

Vậy khoản vay nước ngoài không được Chính phủ bảo lãnh là gì? 

Theo quy định Khoản 2 Điều 3 Nghị định 219/2013/NĐ-CP, khoản vay nước ngoài không được Chính phủ bảo lãnh hay còn gọi là “vay nước ngoài tự vay, tự trả”, là việc bên đi vay thực hiện vay nước ngoài theo phương thức tự vay, tự chịu trách nhiệm trả nợ với bên cho vay nước ngoài (“Khoản Vay Nước Ngoài”).

Như vậy, một công ty thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam (bao gồm công ty có vốn đầu tư nước ngoài) (“Bên Đi Vay”) được phép vay vốn từ các tổ chức, cá nhân nước ngoài (“Bên Cho Vay”) để đáp ứng nhu cầu vốn của Bên Đi Vay, thì khoản vay giữa Bên Đi Vay và Bên Cho Vay này cũng được gọi là Khoản Vay Nước Ngoài và phải đáp ứng điều kiện theo quy định pháp luật Việt Nam về vay, trả nợ nước ngoài.

Tuy nhiên, đối với khoản vay mà Bên Cho Vay – là cá nhân nước ngoài được phép cư trú tại Việt Nam từ 12 tháng trở lên (ví dụ đã được cấp thẻ tạm trú cho thời hạn từ 12 tháng trở lên). Khoản vay đó không được xem là Khoản Vay Nước Ngoài và không chịu sự điều chỉnh bởi các quy định pháp luật Việt Nam về vay, trả nợ nước ngoài.

Các vấn đề pháp lý cơ bản cần lưu ý đối với Khoản Vay Nước Ngoài

  • Đăng ký với Ngân hàng Nhà nước

Khoản vay thuộc đối tượng phải thực hiện đăng ký/không đăng ký với Ngân hàng Nhà nước bao gồm:

  • Khoản vay ngắn hạn nước ngoài (“Khoản Vay Ngắn Hạn”) có thời hạn vay không quá một năm không là đối tượng phải đăng ký với Ngân hàng Nhà nước (trừ trường hợp khoản vay ngắn hạn được gia hạn mà tổng thời hạn khoản vay trên một năm hoặc không được gia hạn nhưng vẫn còn dư nợ gốc sau 10 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn một năm tính từ ngày rút vốn đầu tiên);
  • Khoản vay trung, dài hạn nước ngoài (“Khoản Vay Trung, Dài Hạn”) với thời hạn vay trên một năm hoặc khoản vay ngắn hạn được gia hạn hoặc vẫn còn dư nợ sau khi kết thúc thời hạn vay như nêu trên, Bên Đi Vay sẽ phải tiến hành thực hiện thủ tục đăng ký khoản vay nước ngoài với Ngân hàng Nhà nước;
  • Tuy nhiên, Khoản Vay Trung, Dài Hạn dưới hình thức nhập khẩu hàng hóa trả chậm không cần phải đăng ký với Ngân hàng Nhà nước.

Bên Đi Vay phải nộp hồ sơ đăng ký khoản vay cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong vòng 30 ngày kể từ ngày:

  • Các bên ký thỏa thuận gia hạn Khoản Vay Ngắn Hạn thành Khoản Vay Trung, Dài Hạn;
  • Ngày tròn một năm kể từ ngày rút vốn đầu tiên đối với Khoản Vay Ngắn Hạn không có hợp đồng gia hạn nhưng còn dư nợ gốc tại thười điểm tròn một năm kể từ ngày rút vốn đầu tiên; hoặc
  • Các bên ký hợp đồng vay trung, dài hạn hoặc thỏa thuận rút vốn (nếu các bên đã ký hợp đồng khung về việc vay trung, dài hạn).

Bên Đi Vay cần lưu ý, khi thay đổi bất kỳ nội dung nào liên quan đến Khoản Vay Nước Ngoài đã được đề cập tại văn bản xác nhận đăng ký khoản vay nước ngoài của Ngân hàng Nhà nước, Bên Đi Vay có trách nhiệm phải thực hiện đăng ký thay đổi Khoản Vay Nước Ngoài với Ngân hàng Nhà nước, trừ một số trường hợp Bên Đi Vay chỉ phải gửi thông báo với Ngân hàng Nhà nước, bao gồm: Kế hoạch rút vốn, trả nợ, chuyển phí thay đổi trong vòng 10 (mười) ngày so với kế hoạch rút vốn, trả nợ, chuyển phí đã được Ngân hàng Nhà nước xác nhận trước đó; Thay đổi địa chỉ Bên Đi Vay trong tỉnh, thành phố nơi Bên Đi Vay đặt trụ sở chính; Thay đổi Bên Cho Vay, các thông tin liên quan về Bên Cho Vay hoặc thay đổi tên giao dịch thương mại của ngân hàng cung ứng dịch vụ tài khoản.

Bên Đi Vay phải thực hiện đăng ký/ thông báo thay đổi trong vòng 30 ngày kể từ ngày thay đổi hoặc nhận được thông báo thay đổi. Trường hợp Bên Đi Vay không thực hiện thủ tục đăng ký/đăng ký thay đổi Khoản Vay Nước Ngoài tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì Bên Đi Vay có thể bị xử phạt hành chính lên đến 60.000.000 đồng.

  • Tài khoản nhận tiền vay

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 24 Thông tư Thông tư 03/2016/TT-NHNN: Tài khoản vay, trả nợ nước ngoài là tài khoản thanh toán của Bên Đi Vay mở tại ngân hàng cung ứng dịch vụ tài khoản để thực hiện rút vốn, trả nợ Khoản Vay Nước Ngoài và các giao dịch chuyển tiền khác liên quan đến hoạt động vay, trả nợ nước ngoài, bảo lãnh cho khoản vay nước ngoài (“Tài Khoản Vay”).

Căn cứ các quy định về tài khoản nhận tiền vay theo quy định của pháp luật ngoại hối, có thể phân loại thành hai đối tượng như sau:

  • Bên Đi Vay là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài; và 
  • Bên Đi Vay không là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, bao gồm:

  • Doanh nghiệp được thành lập theo hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, trong đó có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông và phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư; hoặc

  • Doanh nghiệp không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này có nhà đầu tư nước ngoài sở hữu từ 51% vốn điều lệ trở lên của doanh nghiệp, bao gồm: 
    • Doanh nghiệp có nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào doanh nghiệp (hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện hoặc không có điều kiện áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài) dẫn đến nhà đầu tư nước ngoài sở hữu từ 51% vốn điều lệ trở lên của doanh nghiệp;
    • Doanh nghiệp được thành lập sau khi chia tách, sáp nhập, hợp nhất dẫn đến nhà đầu tư nước ngoài sở hữu từ 51% vốn điều lệ trở lên của doanh nghiệp;
    • Doanh nghiệp được thành lập mới theo quy định của pháp luật chuyên ngành;
  • Doanh nghiệp dự án do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện dự án PPP theo quy định của pháp luật về đầu tư.

Như vậy, đối với Bên Đi Vay là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thì

  • Nếu là Khoản Vay Trung, Dài Hạn, khoản vay này phải được chuyển vào tài khoản vốn đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp (“DICA”), sau đó từ DICA có thể giải ngân vào tài khoản thanh toán của doanh nghiệp để chi trả cho các mục đích vay; 
  • Nếu là Khoản Vay Ngắn Hạn, khoản vay này có thể được chuyển vào DICA tương tự như trường hợp nêu trên hoặc Tài Khoản Vay (không phải DICA) của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mà tài khoản này chỉ sử dụng cho mục đích nhận tiền vay và trả nợ vay liên quan đến các khoản vay nước ngoài ngắn hạn. Mỗi Khoản Vay Ngắn Hạn chỉ được thực hiện thông qua một ngân hàng cung ứng dịch vụ tài khoản. Bên Đi Vay có thể dùng một tài khoản cho một hoặc nhiều khoản vay nước ngoài ngắn hạn.

Đối với Bên Đi Vay không phải là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: khoản vay nước ngoài (bất kỳ là Khoản Vay Ngắn Hạn hay Trung, Dài Hạn) đều sẽ được chuyển vào Tài Khoản Vay. Mỗi Khoản Vay Nước Ngoài này chỉ được thực hiện thông qua một ngân hàng cung ứng dịch vụ tài khoản và Bên Đi Vay cũng có thể dùng một tài khoản cho một hoặc nhiều khoản vay nước ngoài ngắn hạn.

Vậy trường hợp Bên Cho Vay là cá nhân nước ngoài được phép cư trú tại Việt Nam từ 12 tháng trở lên có nhu cầu cho Bên Đi Vay vay tiền thì sẽ áp dụng như thế nào?

Đối với Bên Cho Vay là cá nhân nước ngoài được phép cư trú tại Việt Nam từ 12 tháng trở lên: theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định 219/2013/NĐ-CP thì vay nước ngoài là việc Bên Đi Vay nhận khoản tín dụng từ người không cư trú thông qua việc ký kết và thực hiện các thỏa thuận vay nước ngoài dưới hình thức hợp đồng vay, hợp đồng mua bán hàng trả chậm, hợp đồng ủy thác cho vay, hợp đồng cho thuê tài chính hoặc phát hành công cụ nợ của Bên Đi Vay. Do đó, trường hợp Bên Cho Vay là cá nhân nước ngoài được phép cư trú tại Việt Nam từ 12 tháng trở lên, khoản vay này không được xem là Khoản Vay Nước Ngoài và không chịu sự điều chỉnh bởi các quy định pháp luật Việt Nam về vay, trả nợ nước ngoài. Do đó:

  • Nếu Bên Cho Vay cho vay bằng nguồn thu nhập hợp pháp tại Việt Nam: Các Bên có thể tự do thỏa thuận cho vay theo quy định pháp luật dân sự mà không chịu sự điều chỉnh bởi quy định pháp luật về vay, trả nợ nước ngoài. 
  • Nếu Bên Cho Vay sử dụng nguồn thu hợp pháp tại nước ngoài cho vay: Mặc dù khoản vay này không được xem là Khoản Vay Nước Ngoài và không chịu sự điều chỉnh bởi các quy định pháp luật về vay, trả nợ nước ngoài. Nhưng hiện tại pháp luật Việt Nam chưa có khung pháp lý điều chỉnh và quy định rõ ràng cho trường hợp này. Do đó, trên thực tế để Bên Đi Vay nhận được khoản vay này từ Bên Cho Vay, một số ngân hàng đã hướng dẫn chuyển tiền thông qua DICA hoặc Tài Khoản Vay như quy định về Khoản Vay Nước Ngoài ở trên.

Trường hợp, các bên không tuân thủ các quy định trên liên quan đến nhận tiền vay, thì có thể bị phạt hành chính nếu có hành vi vi phạm như sau:

  • Không thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc mở, đóng, sử dụng tài khoản tại Việt Nam để thực hiện một trong các hoạt động: Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam; đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài; vay, trả nợ nước ngoài…, với mức xử phạt hành chính lên đến 100.000.000 đồng;
  • Thực hiện việc rút vốn, trả nợ đối với các khoản vay nước ngoài không đúng quy định của pháp luật, với mức xử phạt hành chính lên đến 100.000.000 đồng;
  • Không chấp hành các quy định của pháp luật về vay, trả nợ nước ngoài (trừ các hành vi nêu trên), với mức xử phạt hành chính lên đến 400.000.000 đồng;
  • Cho vay bằng hình thức thanh toán tiền mặt, với mức xử phạt hành chính lên đến 400.000.000 đồng, buộc nộp vào ngân sách nhà nước số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm và không cho mở rộng phạm vi, quy mô và địa bàn hoạt động trong thời gian chưa khắc phục xong vi phạm;

Ngoài ra, Bên Cho Vay có thể phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp/thuế thu nhập cá nhân từ thu nhập tiền lãi vay và phải được giữ lại bởi Bên Đi Vay để kê khai và nộp thuế cho cơ quan thuế có thẩm quyền theo quy định pháp luật.

Trên đây là một số vấn đề pháp lý liên quan đến khoản vay nước ngoài không được Chính phủ bảo lãnh mà Bên Đi Vay cần phải nắm rõ và tuân thủ để thực hiện đúng, hạn chế sai sót dẫn đến hậu quả đáng tiếc. 

Read more...

Những lưu ý khi sử dụng hợp đồng mẫu

Xây dựng các hợp đồng mẫu để ký kết trong hoạt động kinh doanh không còn là điều xa lạ đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam. Tuy nhiên, với một nền kinh tế vẫn đang phát triển với các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ lệ lớn trong cộng đồng doanh nghiệp, trong đó, doanh nghiệp quy mô nhỏ và siêu nhỏ chiếm tỷ lệ rất lớn, hơn 98% trên tổng số doanh nghiệp nhỏ và vừa, đại đa số các doanh nghiệp không quan tâm nhiều về tính chất pháp lý của các hợp đồng mẫu mà họ đang sử dụng. Hợp đồng đơn giản chỉ là một “mẩu giấy” để hợp thức hóa giao dịch của các bên, để tiện kê khai thuế… Ngược lại, cũng có rất nhiều doanh nghiệp đã xây dựng cho mình một bộ hợp đồng mẫu tại đó ghi nhận các nội dung chính về các dịch vụ hay sản phẩm mà mình cung cấp, thậm chí xây dựng một bộ quy tắc chung cho việc cung cấp sản phẩm/ dịch vụ của mình. Việc sử dụng mẫu hợp đồng đã giúp các doanh nghiệp thích ứng tốt hơn với yêu cầu rút ngắn thời gian chuẩn bị để ký kết hợp đồng. Tuy nhiên, sử dụng hợp đồng mẫu mà không biết đến các điều kiện gắn liền với nó sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy bất cập cho doanh nghiệp.

Theo quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự 2015, giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

  • Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
  • Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
  • Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội;
  • đáp ứng điều kiện về hình thức nếu luật quy định.

Thông thường, mọi người chỉ chú trọng vào năng lực chủ thể và ý chí tự nguyện của đôi bên khi tham giao giao dịch. Hồn nhiên nghĩ rằng đôi bên cùng đồng ý tham gia hợp đồng, ký tên vào hợp đồng thì mặc nhiên hợp đồng đó sẽ có hiệu lực áp dụng mà quên mất rằng Bộ luật dân sự chỉ là luật chung, tùy vào từng trường hợp cụ thể mà doanh nghiệp còn phải kiểm tra thêm quy định tại các bộ luật chuyên ngành. 

Thứ nhất, doanh nghiệp nên xác định hợp đồng mẫu mà mình sử dụng có thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng hay không.

Hợp đồng có nhiều dạng, hợp đồng kinh tế, hợp đồng hợp tác… Trong quan hệ cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng thì hợp đồng do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ soạn thảo để giao dịch với người tiêu dùng cũng được xem là hợp đồng theo mẫu (khoản 5 Điều 3 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010). Trong đó, người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức, và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là bất kỳ tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Lưu ý, các hợp đồng được giao kết nhằm mục đích kinh doanh, sinh lợi của cá nhân, tổ chức không nằm trong nhóm này.

Trong mối quan hệ với bên bán hàng hóa/ cung cấp dịch vụ, người tiêu dùng được xem là bên yếu thế hơn. Do đó, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng có rất nhiều quy định bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng mà doanh nghiệp cần lưu ý, cụ thể một số vấn đề như sau:

(i) Những điều khoản của hợp đồng, điều kiện giao dịch chung với người tiêu dùng không có hiệu lực tại Điều 16 Luật Bảo vệ người tiêu dùng, trong đó có một số trường hợp doanh nghiệp hay gặp như sau:

  • Loại trừ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đối với người tiêu dùng theo quy định của pháp luật;
  • Hạn chế, loại trừ quyền khiếu nại, khởi kiện của người tiêu dùng;
  • Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đơn phương thay đổi điều kiện của hợp đồng đã thỏa thuận trước với người tiêu dùng hoặc quy tắc, quy định bán hàng, cung ứng dịch vụ áp dụng đối với người tiêu dùng khi mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ không được thể hiện cụ thể trong hợp đồng;
  • Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đơn phương xác định người tiêu dùng không thực hiện một hoặc một số nghĩa vụ;
  • Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ quy định hoặc thay đổi giá tại thời điểm giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

Rất nhiều trường hợp doanh nghiệp vướng phải những quy định cấm nêu trên và đã phải chấp nhận bị hủy hợp đồng, hoàn trả lại các khoản phí đã nhận và bồi thường cho người tiêu dùng khi xảy ra tranh chấp.

(ii) Thứ hai, về thời gian xem xét hợp đồng: Luật bảo vệ người tiêu dùng cũng quy định, khi giao kết hợp đồng theo mẫu, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải dành thời gian hợp lý để người tiêu dùng nghiên cứu hợp đồng. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải lưu giữ hợp đồng theo mẫu đã giao kết cho đến khi hợp đồng hết hiệu lực. (Điều 17 Luật bảo vệ NTD).

(iii) Về vấn đề điều kiện giao dịch chung:  Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ sử dụng điều kiện giao dịch chung có trách nhiệm thông báo công khai điều kiện giao dịch chung trước khi giao dịch với người tiêu dùng và phải được niêm yết ở nơi thuận lợi tại địa điểm giao dịch để người tiêu dùng có thể nhìn thấy.

Thứ hai, về hình thức hợp đồng.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 177 Bộ Luật dân sự, hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định. Do đó, khi sử dụng hợp đồng, doanh nghiệp cũng cần lưu ý kiểm tra kỹ loại hợp đồng mình đang sử dụng, đối chiếu với các quy định liên quan có phải tuân thủ quy định gì về hình thức không, như phải lập bằng văn bản, phải được công chứng, chứng thực, hoặc mẫu hợp đồng phải được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền…

Không thể phủ nhận lợi ích của việc sử dụng hợp đồng mẫu trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng hãy là một thương nhân thông thái và kiểm tra kỹ các vấn đề pháp lý có liên quan đến hợp đồng trước khi đặt bút ký, tránh “tiền mất tật mang”.

Read more...

“Cover” Bài Hát/Bản Nhạc dưới góc nhìn Luật Sở hữu trí tuệ

Trong bối cảnh mở cửa hội nhập, giao lưu quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, thị trường âm nhạc của Việt Nam đã trở nên sôi động với sự phát triển của hàng loạt nhạc sĩ trẻ, ca sĩ mới, công ty biểu diễn và các tổ chức biểu diễn. Việc làm mới một ca khúc đã nổi tiếng hoặc thực hiện lại (hay còn gọi là “cover”) một bài hát đang được yêu thích nhất cũng trở nên “thịnh hành”. Một bạn trẻ chỉ cần có chất giọng tốt, chọn một bài hát/ bản nhạc nổi tiếng một thời hoặc đương thời, phối mới và hát theo cách sáng tạo riêng của mình rồi đăng lên các trang dịch vụ âm nhạc, các trang mạng xã hội….., đây là một cách bước vào con đường ca hát “nhanh”. Không chỉ vậy, trước sự du nhập và yêu thích của các nền nhạc Hoa, nhạc Hàn, nhiều bản nhạc Hoa, nhạc Hàn tiếp tục được chuyển ngữ hoặc viết lời mới và trình bày lại. Trong lĩnh vực âm nhạc, nhiều người cùng biểu diễn một bài hát là điều không có gì xa lạ, việc “cover” một bản nhạc/ bát hát trong âm nhạc không phải điều xấu mà phần nào bài hát thêm lan tỏa rộng rãi trên thị trường âm nhạc. Tuy nhiên, “cover” không có nghĩa là tổ chức, cá nhân “cover” có thể làm bất cứ điều gì mình mong muốn, kể cả không nhằm mục đích thương mại, mà việc “cover” một bài hát/ bản nhạc cần phải tôn trọng bản quyền tác phẩm, tôn trọng quyền tác giả và thực hiện theo các quy định của pháp luật. 

Một bài hát/ bản nhạc được bảo hộ quyền tác giả khi nào?

Tác phẩm âm nhạc (hay một bài hát/ bản nhạc) là đối tượng đươc bảo hộ quyền tác giả. Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, tác phẩm âm nhạc là tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác hoặc được định hình trên bản ghi âm, ghi hình có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn. Quyền tác giả của tác phẩm âm nhạc phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.

Như vậy một bài hát/ bản nhạc được bảo hộ quyền tác giả ngay khi tác giả sáng tác mà không cần đăng ký quyền tác giả. Theo đó, tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả sẽ có các quyền theo quy định pháp luật: quyền nhân thân (quyền đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;  bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả …) và quyền tài sản (làm tác phẩm phái sinh; biểu diễn tác phẩm trước công chúng; sao chép tác phẩm; phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác; cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính…).

Những lưu ý khi thực hiện lại hay còn gọi là “cover” một bài hát/ bản nhạc?

Theo thực tế diễn ra trên thị trường âm nhạc hiện nay, chúng ta có thể chia việc “cover” một bài hát/ bản nhạc thành hai dạng như sau (i) “Cover” một bài hát/ bản nhạc nhưng không làm thay đổi nội dung và giai điệu của tác phẩm gốc; (ii) “Cover” bài hát/ bản nhạc nhưng có sự thay đổi cơ bản giai điệu/ lời bài hát của tác phẩm gốc hoặc chuyển ngữ hoặc viết lời mới dựa trên các nền nhạc Hoa, Hàn. 

Hình thức “cover” lại một bài hát/bản nhạc nhưng không làm thay đổi nội dung và giai điệu của tác phẩm gốc là trình bày lại tác phẩm gốc và có thể sử dụng các loại nhạc cụ thay thế khác nhau như guitar, piano….sau đó đăng tải lên các trang dịch vụ âm nhạc hoặc các trang mạng xã hội. Đây là hành vi “biểu diễn tác phẩm trước công chúng” – một độc quyền thuộc quyền tài sản của tác phẩm được pháp luật trao cho chủ sở hữu quyền tác giả. Theo đó, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện biểu diễn tác phẩm một cách trực tiếp hoặc thông qua các bản ghi âm, ghi hình hay bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được. Khi các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng quyền này phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả. Do đó, khi thực hiện “cover” và tải những bản “cover” các trang dịch vụ âm nhạc hoặc các trang mạng xã hội, tổ chức, cá nhân “cover” phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả, đồng thời phải đảm bảo không gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

Đối với hình thức “cover” một bài hát/ bản nhạc nhưng có sự thay đổi cơ bản giai điệu/ lời bài hát của tác phẩm gốc hoặc chuyển ngữ hoặc viết lời mới dựa trên các nền nhạc Hoa, Hàn.  Đây có thể được xem là thực hiện “ tác phẩm phái sinh”, một hành vi được pháp luật cho phép. Tuy nhiên, khi làm tác phẩm phái sinh, người thực hiện cần đáp ứng một số điều kiện như sau:

  • Được sự cho phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả;
  • Không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm gốc;
  • Trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả. 

Bên cạnh đó, tác phẩm cover theo hình thức này sẽ được bảo hộ quyền tác giả dưới dạng tác phẩm phái sinh của tác phẩm được cover nếu tuân thủ đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, tổ chức, cá nhân thực hiện “cover” bài hát/ bản nhạc không cần phải xin phép tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và không phải trả tiền thù lao, nhuận bút.. cho chủ sở hữu quyền tác giả trong một số trường hợp như sau: 

  • Chuyển tác phẩm sang chữ nổi, hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị;
  • Sử dụng vào mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy cá nhân, hoặc biểu diễn  trong các buổi sinh hoạt văn hóa, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào;
  • Tác phẩm gốc đã trở thành tác phẩm của công chúng (sau khi hết thời hạn bảo hộ tác phẩm là 50 năm kể từ ngày tác giả chết).

Tuy nhiên, dù thực hiện “cover”, sử dụng trong bất kỳ trường hợp nào thì tổ chức, cá nhân thực hiện cần đảm bảo không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường bài hát/ bản nhạc của chủ sở quyền tác giả; không gây hại đến quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và phải ghi đầy đủ tên tác giả, nguồn gốc, xuất xứ của bài hát/ bản nhạc. 

Âm nhạc là hoạt động nghệ thuật mang tính sáng tạo, mỗi bài hát/ bản nhạc sẽ mang phong cách riêng của nhạc sĩ, ca sĩ. Để âm nhạc Việt Nam có thể khẳng định vị thế và có những thành tựu vươn tầm trên thị trường âm nhạc thế giới, tôn trọng quyền tác giả, tôn trọng sự sáng tạo của tác giả là một trong những nhân tố quan trọng không thể thiếu. Trước khi thực hiện “cover”, sử dụng hoặc thưc hiện bất kỳ hành vi nào liên quan đến quyền tác giả nói riêng và các quyền sở hữu trí tuệ nói chung, chúng ta phải xem xét hành vi của mình có cần xin phép tác giả, có cần trả tiền nhuận bút cho chủ sở hữu quyền tác giả hoặc có vi phạm quyền sở hữu trí tuệ nào hay không. Từ đó thực hiện những hành vi hợp lý để đảm bảo tuân thủ, tôn trọng tinh thần sáng tạo của tác giả, công sức, tiền bạc của chủ sở hữu đã sáng tạo ra tác phẩm. 

Read more...