Giao dịch đáng chú ý gần đây

Apolat Legal đã tư vấn nhiều giao dịch định hình thị trường trên một loạt các ngành công nghiệp trong lĩnh vực năng lượng, thương mại điện tử, công nghệ, bán lẻ, hậu cần, bất động sản, …

Xem thêm

Sáp nhập và đầu tư

  • Đầu tư nước ngoài
  • Tuân thủ pháp luật
  • Mua bán & Sáp nhập
  • Chi tiết

Thương mại trong và ngoài nước

  • Thương mại quốc tế
  • Mua bán
  • Phân phối
  • Chi tiết

Giải quyết tranh chấp

Lao động

  • Lao động quốc tế
  • Phúc lợi
  • Quản lý nhân sự
  • Chi tiết

Sở hữu trí tuệ

  • Nhượng quyền thương mại
  • Nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp
  • Bản quyền và bằng sáng chế
  • Chi tiết

Bất động sản

  • Bất động sản
  • Cơ sở hạ tầng
  • Giao dịch thuê
  • Chi tiết

Chúng tôi luôn tin rằng

Tại Apolat Legal, sự đa dạng, hòa nhập và bình đẳng là một phần trong cách sống và giá trị của chúng tôi.

Chúng tôi áp dụng các giá trị vào tất cả các hoạt động của chúng tôi trên toàn cầu. Các giá trị đó phản ánh văn hóa và tính cách của chúng tôi cả bên trong lẫn bên ngoài, cách chúng tôi làm việc và những gì chúng tôi đại diện. 

Tầm nhìn của chúng tôi

Tiên phong

Chúng tôi luôn nỗ lực trở thành công ty luật tiên phong với các cam kết về chất lượng và cải tiến dịch vụ cho khách hàng của chúng tôi.

Giá trị cốt lõi của chúng tôi

Đổi mới

Chúng tôi luôn theo đuổi sự xuất sắc và tìm cách đổi mới trong mọi điều chúng tôi làm với mục đích tạo ra giá trị thực cho khách hàng.

Đồng đội của chúng tôi

Đa dạng

Chúng tôi coi trọng sự đa dạng và tôn trọng cá nhân. Chúng tôi tin vào tinh thần đồng đội vì lợi ích của công ty và khách hàng của chúng tôi.

Khách hàng của chúng tôi

Mối quan hệ bền vững

Chúng tôi tin tưởng vào mối quan hệ lâu dài với khách hàng dựa trên sự cởi mở và trung thực với trọng tâm luôn là lợi ích của khách hàng.

Cộng đồng xung quanh chúng tôi

Sự kết nối

Sức mạnh và tầm nhìn của chúng tôi sẽ được hình thành dựa trên bản sắc thực tiễn của địa phương, mối quan hệ và văn hoá làm việc của chúng tôi.

Cập nhật mới nhất

TIN TỨC VÀ CẬP NHẬT PHÁP LÝ

[Cập nhật pháp lý] Các thay đổi mức giảm trừ gia cảnh của thuế thu nhập cá nhân

1| Bài viết pháp lý nổi bật của chúng tôi trong tháng 06 năm 2020

Trong tháng 06 năm 2020, các nhân sự của chúng tôi đã có những bài viết đáng chú ý, cụ thể:

  • Luật sư Lê Tiến Đạt và Trần Thị Ngọc Hòa với bài viết “Nghĩa vụ thuế của nhà thầu nước ngoài khi tiến hành đầu tư xây dựng tại Việt Nam theo Hợp đồng EPC” đã cung cấp một bản tóm tắt pháp lý về nghĩa vụ thuế của nhà thầu nước ngoài trong quá trình thực hiện Hợp đồng EPC theo pháp luật Việt Nam. Để đọc toàn bộ bài viết, vui lòng xem tại đây.
  • Thạc sĩ Trần Châu Hoài Hận và Lê Thị Anh Thư với bài viết “Tổng quan về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam” đã cung cấp các thông tin tổng thể về pháp luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam. Để đọc toàn bộ bài viết, vui lòng xem tại đây.

2| Các tin tức đáng lưu ý trong tháng 06 năm 2020

a) Các thay đổi mức giảm trừ gia cảnh của thuế thu nhập cá nhân

Vào ngày 02 tháng 06 năm 2020, Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội đã ban hành Nghị quyết số: 954/2020/UBTVQH14 quy định về điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh của thuế thu nhập cá nhân, có hiệu thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2020. Theo Nghị Quyết này, mức giảm trừ gia cảnh sẽ được thay đổi như sau:

  • Mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 11 triệu đồng/tháng (132 triệu đồng/năm);
  • Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 4,4 triệu đồng/tháng.

Các trường hợp đã tạm nộp thuế theo mức giảm trừ gia cảnh theo quy định cũ được xác định lại số thuế thu nhập cá nhân phải nộp theo mức giảm trừ gia cảnh quy định tại Nghị quyết này khi quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2020.

Mức giảm trừ gia cảnh mới được áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2020.

b) Quốc hội Việt Nam đã thông qua Hiệp định EVFTA và Hiệp định EVIPA

Vào ngày 08 tháng 6 năm 2020, Quốc hội Việt Nam đã thông qua cả hai Hiệp định EVFTA và Hiệp định EVIPA. Để biết thêm chi tiết, vui lòng xem tại đây.

c) Cắt giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) vào năm 2020 cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Vào ngày 19 tháng 6 năm 2020, Quốc hội Việt Nam đã thông qua nghị quyết cắt giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) trong năm 2020 cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa có doanh thu trong năm 2020 không quá 200 tỷ Việt Nam Đồng (8,6 triệu Đô La Mỹ).

Nghị quyết được thông qua sẽ có hiệu lực sau 45 ngày kể từ ngày ký và được áp dụng cho kỳ tính thuế 2020.

3| Các văn bản đã được ban hành đáng lưu ý tháng 06 năm 2020

STT TÊN VĂN BẢN NGÀY BAN HÀNH  NGÀY CÓ HIỆU LỰC
1.      Nghị định 66/2020/NĐ-CP ngày 11 tháng 06 năm 2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2017/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2017 của Chính phủ về quản lý, phát triển cụm công nghiệp  11/06/2020 01/08/2020
2.      Nghị định 66/2020/NĐ-CP ngày 11 tháng 06 năm 2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh hàng miễn thuế, kho bãi, địa điểm làm thủ tục hải quan, tập kết, kiểm tra, giám sát hải quan  15/06/2020 10/08/2020
3.      Thông tư số 11/2020/TT-BCT ngày 15 tháng 6 năm 2020 của Bộ Công thương quy định quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên Minh Châu Âu 15/06/2020 01/08/2020

 

Tải Cập nhật pháp lý tại đây.

Read more...

[Cập nhật pháp lý] Một số Nghị Quyết được Quốc Hội thông qua gần đây

Luật Doanh nghiệp (sửa đổi)

Vào ngày 17 tháng 6 năm 2020, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021.

Một vài điểm chú ý của Luật Doanh nghiệp (sửa đổi)

  • Không còn quy định thủ tục thông báo mẫu con dấu đến Cơ quan đăng ký kinh doanh;
  • Doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ sẽ được xem là doanh nghiệp nhà nước (theo quy định hiện nay là 100%);
  • Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 5% tổng số cổ phần phổ thông trở lên có quyền xem xét, tra cứu và trích lục sổ biên bản và các nghị quyết, quyết định của hội đồng quản trị, báo cáo tài chính, và có quyền yêu cầu triệu tập họp đại đội đồng cổ đông trong một số trường hợp.

Luật Đầu tư (sửa đổi)

Vào ngày 17 tháng 6 năm 2020, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Đầu tư (sửa đổi). Theo đó, một số điểm mới như:

  • Không quy định mức trần của chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt mà chỉ quy định mức ưu đãi và thời hạn áp dụng ưu đãi đặc biệt thực hiện theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và pháp luật về đất đai;
  • Đưa dịch vụ đòi nợ thuê vào danh mục cấm đầu tư kinh doanh.

Luật Đầu tư (sửa đổi) sẽ có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2021.

Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP)

Vào ngày 18 tháng 6 năm 2020, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP). Theo đó, một số điểm nổi bật như:;

  • Hạn mức tham gia của nhà nước trong dự án PPP không quá 50% tổng mức đầu tư của dự án;
  • Cơ chế chia sẻ tăng (doanh thu tăng trên 125%), giảm (doanh thu giảm dưới 75%) doanh thu để giảm thiểu rủi ro cho dự án PPP, đặc biệt các rủi ro do những thay đổi từ phía Nhà nước;
  • Doanh nghiệp dự án PPP được cho phép phát hành trái phiếu doanh nghiệp để huy động vốn thực hiện dự án PPP.

Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) sẽ có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2021.

Cắt giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp  vào năm 2020 cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Vào ngày 19 tháng 6 năm 2020, Quốc hội Việt Nam đã thông qua nghị quyết cắt giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) trong năm 2020 cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa có doanh thu trong năm 2020 không quá 200 tỷ Việt Nam Đồng (8,6 triệu Đô La Mỹ). 

Nghị quyết được thông qua sẽ có hiệu lực sau 45 ngày kể từ ngày ký và được áp dụng cho kỳ tính thuế 2020. 

Tải Cập nhật pháp lý tại đây.

Read more...

[Cập nhật pháp lý] Quốc hội Việt Nam đã thông qua hai Hiệp định EVFTA và Hiệp định EVIPA

Vào ngày 08 tháng 6 năm 2020, Quốc hội Việt Nam đã thông qua cả hai Hiệp định EVFTA và Hiệp định EVIPA.

TỔNG QUAN TOÀN DIỆN CỦA HIỆP ĐỊNH EVFTA

Cắt giảm hoặc xóa bỏ thuế quan

Theo EVFTA, Việt Nam sẽ xóa bỏ thuế quan cho hàng hóa của EU thuộc 48,5% số dòng thuế trong biểu thuế ngay khi EVFTA có hiệu lực (ngày 01 tháng 8 năm 2020). Trong vòng 07 năm kể từ khi EVFTA có hiệu lực, Việt Nam cam kết xóa bỏ 91,8% số dòng thuế trong biểu thuế. Trong vòng 10 năm kể từ khi EVFTA có hiệu lực, Việt Nam cam kết xóa bỏ 98,3% số dòng thuế trong biểu thuế.

Bên cạnh đó, EU sẽ xóa bỏ 85,6% số dòng thuế đối với hàng hoá Việt Nam ngay sau khi EVFTA có hiệu lực. Trong vòng 07 năm kể từ khi EVFTA có hiệu lực, EU cam kết xóa bỏ 99,2% số dòng thuế trong biểu thuế.

Các điểm đáng lưu ý trong các cam kết của Việt Nam về hàng hóa và dịch vụ

(i) Hàng tân trang sẽ được đối xử giống như hàng hóa mới tương tự. Một bên có thể yêu cầu dán nhãn cụ thể đối với hàng tân trang để tránh việc gây nhầm lẫn người tiêu dùng.

(ii) Cơ chế tự chứng nhận xuất xứ, bên cạnh cơ chế cấp Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) truyền thống, hai bên thống nhất cho phép nhà xuất khẩu được tự chứng nhận xuất xứ. Đây là cơ chế mà nhà xuất khẩu tự khai xuất xứ của sản phẩm trong bộ tài liệu nộp cho cơ quan hải quan của nước nhập khẩu thay vì phải xin C/O từ các cơ quan chức năng.

Việt Nam và EU nhất trí sử dụng mẫu C/O EUR 1 là mẫu chung trong Hiệp định EVFTA. Mẫu EUR 1 yêu cầu thông tin khai báo đơn giản hơn so với mẫu C/O trong các Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) và các Hiệp định thương mại tự do (FTAs) giữa ASEAN với các đối tác ngoại khối mà Việt Nam đã ký kết.

Một số thông tin nhà xuất khẩu được phép lựa chọn khai báo hoặc không khai báo như nhà nhập khẩu, hành trình lô hàng, số hóa đơn thương mại. Về nội dung khai báo, hai bên thống nhất không yêu cầu thể hiện tiêu chí xuất xứ, mã số HS của hàng hóa trên C/O.

(iii) Đối với hoạt động bán lẻ, việc thành lập cơ sở bán lẻ (ngoài cơ sở bán lẻ thứ nhất) sẽ được xem xét trên cơ sở kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT). Trong trường hợp thành lập cơ sở bán lẻ nhỏ hơn 500m2 trong khu vực quy hoạch cho các hoạt động kinh doanh và đã hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng, việc kiểm tra ENT là không bắt buộc. 05 năm kể từ ngày EVFTA có hiệu lực, yêu cầu kiểm tra ENT sẽ bị bãi bỏ. Việt Nam vẫn có quyền áp dụng các biện pháp kế hoạch và quy hoạch không phân biệt đối xử.

(iv) Đối với dịch vụ ngân hàng, Việt Nam cam kết sẽ xem xét thuận lợi việc cho phép các tổ chức tín dụng EU nâng mức nắm giữ của phía nước ngoài lên 49% vốn điều lệ trong 02 ngân hàng thương mại cổ phần của Việt Nam. Tuy nhiên, cam kết này chỉ có hiệu lực trong vòng 05 năm kể từ ngày EVFTA có hiệu lực (hết thời hạn 05 năm Việt Nam sẽ không bị ràng buộc bởi cam kết này), không áp dụng với 04 ngân hàng thương mại cổ phần mà nhà nước đang nắm cổ phần chi phối là BIDV, Vietinbank, Vietcombank và Agribank. Bên cạnh đó, việc thực hiện cam kết này sẽ phải tuân thủ đầy đủ các quy định về thủ tục mua bán, sáp nhập cũng như các điều kiện an toàn, cạnh tranh, bao gồm giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần áp dụng đối với từng nhà đầu tư là cá nhân, tổ chức trên cơ sở đối xử quốc gia, theo quy định của pháp luật của Việt Nam.

(v) Đối với dịch vụ vận tải, Việt Nam cho phép cho phép các nhà cung cấp dịch vụ vận tải biển quốc tế của Liên minh Châu Âu hoặc quốc gia thành viên Liên minh Châu Âu để tái phân phối công-te-nơ rỗng do hãng tàu đó sở hữu hoặc đi thuê, với điều kiện những công-te-nơ đó không được vận chuyển có tính phí dưới dạng hàng hóa và sẽ được sử dụng để xử lý hàng hóa của hãng tàu đó, giữa cảng Quy Nhơn và cảng Cái Mép – Thị Vải. Sau 05 năm kể từ ngày EFVTA có hiệu lực, Việt Nam sẽ cho phép thực hiện vận chuyển công-ten-nơ rỗng trên tất cả các tuyến. Với dịch vụ nạo vét, Việt Nam cho phép doanh nghiệp EU lập liên doanh tới 51% để cung cấp dịch vụ tại Việt Nam. Đối với dịch vụ mặt đất ở sân bay, Bộ Giao thông vận tải cũng đồng ý sau 05 năm kể từ khi Việt Nam mở cửa cho khu vực tư nhân sẽ cho phép các doanh nghiệp EU lập liên doanh với đối tác Việt Nam, trong đó vốn của phía nước ngoài không quá 49%, để đấu thầu cung cấp dịch vụ này. 03 năm sau đó, hạn chế vốn nước ngoài sẽ là 51%.

(vi) Đối với dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng không có hạ tầng mạng, Việt Nam cho phép thành lập công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài sau 5 năm kể từ ngày Hiệp định EVFTA có hiệu lực.

Tiếp cận thị trường

Đối với những ngành, phân ngành liệt kê trong Biểu cam kết cụ thể (ví dụ: dịch vụ y tế, dịch vụ kho bãi,…), trừ trường hợp có bảo lưu được ghi rõ trong Biểu cam kết, hai bên cam kết không áp dụng các hạn chế liên quan đến: (i) số lượng doanh nghiệp được phép tham gia thị trường, (ii) giá trị giao dịch, (iii) số lượng hoạt động, (iv) vốn góp của nước ngoài, (v) hình thức của pháp nhân, (vi) số lượng thể nhân được tuyển dụng.

Đối xử quốc gia

Đối với những ngành/phân ngành được liệt kê trong Biểu cam kết cụ thể (ví dụ: dịch vụ y tế, dịch vụ kho bãi,…), hai bên cam kết dành cho nhà cung cấp dịch vụ và nhà đầu tư của nhau sự đối xử không kém thuận lợi hơn so với sự đối xử dành cho nhà cung cấp dịch vụ và nhà đầu tư tương tự của mình, trừ trường hợp có quy định khác ở trong Biểu cam kết. Đối với các doanh nghiệp của nhà đầu tư của một Bên đã hoạt động trên lãnh thổ của Bên kia, hai Bên cam kết đối xử như doanh nghiệp của nhà đầu tư nước mình, trừ những ngoại lệ đã nêu trong Biểu cam kết và một số ngoại lệ cụ thể khác.

Các điểm đáng lưu ý liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ

(i) Hiệp định EVFTA yêu cầu mỗi bên phải quy định rằng một nhãn hiệu đã đăng ký có thể bị đình chỉ hiệu lực nếu trong vòng 05 năm liên tục trước khi có yêu cầu bị đình chỉ, nhãn hiệu đó không được chủ sở hữu hoặc bên nhận chuyển giao quyền sở hữu đưa vào sử dụng một cách thực sự tại lãnh thổ tương ứng cho hàng hóa hoặc dịch vụ liên quan đến nhãn hiệu đã được đăng ký mà không có lý do chính đáng, trừ trường hợp việc sử dụng được bắt đầu hoặc tiếp tục trước ít nhất 03 tháng tính đến ngày có yêu cầu đình chỉ.

(ii) Hiệp định EVFTA cũng yêu cầu Chính phủ của mỗi bên cung cấp cho các nhân viên hải quan và chính quyền các công cụ tốt hơn để giải quyết các hành vi xâm phạm thông qua các điều khoản nhằm cải thiện khung pháp lý và hành động chống lại các vi phạm. Theo đó, các cơ quan tư pháp có thẩm quyền, theo yêu cầu của một bên đã đưa ra bằng chứng sẵn có hợp lý hỗ trợ cho tuyên bố rằng quyền sở hữu trí tuệ của mình đã bị xâm phạm hoặc sắp bị xâm phạm, mỗi bên phải bảo đảm rằng cơ quan tư pháp có thẩm quyền của bên mình có quyền áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời nhanh chóng và hiệu quả để ngăn chặn hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ xảy ra, và cụ thể là, để ngăn chặn việc đưa vào và lưu thông hàng hóa, bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu ngay sau khi được phép thông quan, trong kênh thương mại trên lãnh thổ nước mình.

TỔNG QUAN TOÀN DIỆN CỦA HIỆP ĐỊNH EVIPA

Các khoản đầu tư được bảo hộ

Theo Hiệp định EVIPA, các khoản đầu tư được bảo hộ của nhà đầu tư của một bên bị thiệt hại do chiến tranh hoặc xung đột vũ trang, cách mạng, tình trạng khẩn cấp quốc gia, nổi loạn, khởi nghĩa hoặc bạo loạn trên lãnh thổ của bên kia sẽ được bên kia áp dụng sự đối xử có liên quan đến việc hoàn trả, đền bù, bồi thường hoặc biện pháp khác không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà bên kia dành cho các nhà đầu tư của mình hay của bất kỳ nước thứ ba nào.

Một bên sẽ không quốc hữu hóa hoặc trưng dụng các khoản đầu tư được bảo hộ của bên kia bằng các biện pháp trực tiếp hoặc gián tiếp với các biện pháp tương ứng với việc quốc hữu hóa hoặc trưng dụng, ngoại trừ:

(a) vì mục đích công;

(b) được thực hiện thông qua quy trình hợp pháp;

(c) trên cơ sở không phân biệt đối xử; và

(d) việc bồi thường được thực hiện nhanh chóng, đầy đủ và hiệu quả.

Tất cả việc chuyển tiền liên quan đến các khoản đầu tư được bảo hộ được cho phép thực hiện bằng bất kỳ đồng tiền tự do chuyển đổi nào, mà không có hạn chế hay sự chậm trễ nào và với tỉ giá thị trường hối đoái vào thời điểm chuyển đổi. Việc chuyển tiền bao gồm:

  • góp vốn, ví dụ vốn ban đầu hoặc vốn góp thêm để duy trì, phát triển hoặc tăng khoản đầu tư;
  • lợi nhuận, cổ tức, thu nhập từ vốn hoặc các nguồn thu khác từ việc bán toàn bộ hay một phần khoản đầu tư hoặc từ việc thanh khoản một phần hay toàn bộ khoản đầu tư;
  • các khoản thanh toán tiền lãi, tiền bản quyền, phí quản lý, và hỗ trợ kỹ thuật và các khoản phí khác;
  • các khoản thanh toán theo một hợp đồng do nhà đầu tư ký kết hoặc khoản đầu tư được bảo hộ, bao gồm các khoản thanh toán thỏa thuận vay;
  • thu nhập và khoản thù lao khác của nhân sự làm việc ở nước ngoài và có liên quan đến khoản đầu tư;
  • các khoản thanh toán để bồi thường cho tổn thất của các khoản đầu tư được bảo hộ của nhà đầu tư của một bên bị thiệt hại do chiến tranh hoặc xung đột vũ trang, cách mạng, tình trạng khẩn cấp quốc gia, nổi loạn, khởi nghĩa hoặc bạo loạn trên lãnh thổ của bên kia;
  • các khoản thanh toán để bồi thường cho tổn thất do quốc hữu hóa hoặc trưng dụng; và
  • các khoản thanh toán thiệt hại căn cứ vào phán quyết theo thủ tục giải quyết tranh chấp.

Giải quyết tranh chấp

Hiệp định EVIPA cung cấp cơ chế cho các nhà đầu tư của một bên tiến hành các thủ tục giải quyết tranh chấp đối với bên kia đối với một số hành vi vi phạm các biện pháp bảo vệ đầu tư. Thủ tục giải quyết tranh chấp theo thứ tự dưới đây:

  • Đầu tiên, tranh chấp sẽ được giải quyết thông qua thương lượng hoặc hòa giải;
  • Trường hợp tranh chấp không thể được giải quyết qua thương lượng hoặc hòa giải, nhà đầu tư có thể gửi yêu cầu tham vấn đến nên trong tranh chấp;
  • Nếu tranh chấp không thể được giải quyết trong vòng 90 ngày kể từ ngày gửi yêu cầu tham vấn, nhà đầu tư có thể gửi thông báo về ý định gửi yêu cầu giải quyết tranh chấp. Thông báo về ý định sẽ được gửi đến EU hoặc tới Việt Nam, tùy theo từng trường hợp;
  • Nếu tranh chấp không thể được giải quyết trong vòng 06 tháng kể từ khi gửi yêu cầu tham vấn và ít nhất 03 tháng đã trôi qua kể từ khi gửi thông báo về ý định trình khiếu kiện, nhà đầu tư có thể gửi yêu cầu tới cấp Tòa án sơ thẩm.

 

Tải Cập nhật pháp lý tại đây.

Read more...

BÀI VIẾT

Các thay đổi mức giảm trừ gia cảnh của thuế thu nhập cá nhân

Vào ngày 02 tháng 06 năm 2020, Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội đã ban hành Nghị quyết số: 954/2020/UBTVQH14 quy định về điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh của thuế thu nhập cá nhân, có hiệu thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2020. Theo Nghị Quyết này, mức giảm trừ gia cảnh sẽ được thay đổi như sau:

  • Mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 11 triệu đồng/tháng (132 triệu đồng/năm);
  • Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 4,4 triệu đồng/tháng.

Các trường hợp đã tạm nộp thuế theo mức giảm trừ gia cảnh theo quy định cũ được xác định lại số thuế thu nhập cá nhân phải nộp theo mức giảm trừ gia cảnh quy định tại Nghị quyết này khi quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2020.

Mức giảm trừ gia cảnh mới được áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2020.

Read more...

Một số vấn đề pháp lý cần lưu ý khi giao kết hợp đồng đại lý độc quyền

Trong bối cảnh hoạt động thương mại không chỉ đơn thuần là các hoạt động bán hàng, cung cấp dịch vụ trực tiếp như hiện nay, việc thiết lập và mở rộng hệ thống phân phối, chuỗi bán hàng đang được càng nhiều chủ thể kinh doanh quan tâm thực hiện bằng nhiều hình thức: mở chi nhánh/ địa điểm kinh doanh, nhượng quyền, mở đại lý thương mại… Trong đó, mô hình đại lý là mô hình thường được ưu tiên lựa chọn bởi  các ưu thế về chi phí, thời gian quản lý, hạn chế được nhiều rủi ro, đồng thời có thể nhanh chóng mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

Trong quá trình cung cấp các dịch vụ tư vấn, rà soát hợp đồng đại lý, đặc biệt là các hợp đồng đại lý độc quyền, Apolat Legal nhận thấy các chủ thể thực hiện giao dịch thường bỏ qua những vấn đề tuy nhỏ nhưng lại có những ảnh hưởng rất lớn trong quá trình thực hiện Hợp Đồng. Tại bài viết này, Apolat Legal sẽ đưa ra một số vấn đề mà các bên cần lưu tâm trước khi tham gia đàm phán cũng như soạn thảo một Hợp Đồng Đại Lý Độc Quyền theo quy định của pháp luật Việt Nam để hạn chế những tranh chấp không đáng có trong quá trình thực hiện Hợp Đồng:

1| Đầu tiên là phạm vi lãnh thổ được độc quyền

Pháp luật thương mại định nghĩa đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao[1]. Trong đó, đại lý độc quyền là hình thức đại lý mà tại một khu vực địa lý nhất định bên giao đại lý chỉ giao cho một đại lý mua, bán một hoặc một số mặt hàng hoặc cung ứng một hoặc một số loại dịch vụ nhất định[2].

Theo đó, bản chất độc quyền của hoạt động đại lý độc quyền có thể được thể hiện và ràng buộc trên các yếu tố sau:

  • Số lượng bên nhận đại lý được chỉ định: chỉ một bên nhận đại lý được nhận độc quyền trong một phạm vi đã được các bên thống nhất.
  • Phạm vi lãnh thổ được chỉ định độc quyền: Phạm vi lãnh thổ mà bên đại lý được độc quyền có thể là một huyện, một tỉnh, liên tỉnh, một khu vực, một quốc gia hay thậm chí là nhiều quốc gia, tùy vào năng lực của các bên.
  • Loại hàng hóa, dịch vụ được độc quyền: Bên giao đại lý có thể giao độc quyền một/ một số hoặc toàn bộ loại sản phẩm mà mình sản xuất/ được quyền phân phối.

Theo đó, tùy vào chiến lược kinh doanh mà Bên Giao Đại Lý và Bên Nhận Đại Lý nên xác định rõ ràng phạm vi nên được thỏa thuận độc quyền đối với lãnh thổ và loại sản phẩm độc quyền để có thể khai thác tối đa tiềm năng của thị trường, cũng như giảm thiểu được rủi ro khi tham gia vào hợp đồng đại lý độc quyền. Vấn đề này đặc biệt đáng lưu tâm đối với Bên giao đại lý, vì trong phạm vi được thỏa thuận theo Hợp Đồng độc quyền, họ chỉ được phép cung cấp hàng hóa/dịch vụ của mình cho duy nhất bên nhận đại lý, việc kinh doanh thuận lợi hay không thuận lợi trong phạm vi đó hoàn toàn phụ thuộc vào bên đại lý.

Đơn cử một trường hợp thường gặp về việc phân chia phạm vi độc quyền: công ty X (bên giao đại lý) và công ty Y (bên đại lý) ký kết hợp đồng đại lý độc quyền về việc Công Ty Y sẽ phân phối toàn bộ loại sản phẩm mà công ty X kinh doanh trong khu vực Đông Nam Bộ (bao gồm Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, tỉnh Bình Dương, tỉnh Đồng Nai, tỉnh Bình Phước, tỉnh Tây Ninh). Như vậy, theo thỏa thuận này thì Công ty X chỉ được cung cấp sản phẩm của mình cho công ty Y mà không được cung cấp các sản phẩm của mình cho bất cứ bên thứ ba nào khác hoặc thậm chí tự mình bán hàng tại khu vực Đông Nam Bộ vì làm thế sẽ vi phạm thỏa thuận tại Hợp Đồng và xâm phạm quyền lợi của công ty Y. Tuy nhiên, nếu trong Hợp Đồng, Công ty X chỉ cho phép Công ty Y độc quyền dòng sản phẩm X1 tại khu vực Đông Nam Bộ, thì Công ty X vẫn sẽ có toàn quyền khai thác các dòng sản phẩm khác mà không ảnh hưởng đến quyền lợi của Công ty Y.

Tuy nhiên bên giao đại lý cũng cần lưu ý, trong trường hợp pháp luật có quy định cụ thể về việc bên đại lý chỉ được giao kết hợp đồng đại lý với một bên giao đại lý đối với một số loại hàng hóa hoặc dịch vụ nhất định thì phải tuân thủ quy định của pháp luật đó[3].

2| Thứ hai, về giá của hàng hóa/dịch vụ

Theo quy định của pháp luật, thù lao đại lý được trả cho bên đại lý dưới hình thức hoa hồng hoặc chênh lệch giá, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác[4].

Xét về khía cạnh của bên giao đại lý họ luôn muốn bên đại lý của mình bán càng nhiều sản phẩm càng tốt vì suy cho cùng họ là cũng là người có lợi, do đó bên giao đại lý thông thường không can thiệp vào giá của hàng hóa/dịch vụ mà bên đại lý bán/cung cấp cho người tiêu dùng. Tuy nhiên cũng không ít trường hợp bên giao đại lý sẽ đưa ra giới hạn về mức giá bán ra của Sản Phẩm thông qua việc đưa ra định mức, hoặc Giá Bán Lẻ quy định để tạo sự đồng nhất về hình ảnh và giá trị sản phẩm.

Xét về khía cạnh của bên đại lý, xuất phát từ “quyền độc quyền” trong việc phân phối sản phẩm trong phạm vi địa lý, họ luôn muốn bán giá cao nhất có thể để thu lợi nhuận. Do đó, các Bên Nhận Đại Lý cũng nên lưu ý đến việc hợp đồng đại lý có ràng buộc về giá bán bản phẩm hay không để có những phương án thương lượng phù hợp.

3| Thứ ba, hạn mức đặt hàng hóa/cung cấp dịch vụ tối thiểu

Thông thường, đi kèm với quyền lợi được độc quyền bán các hàng hóa/cung cấp dịch vụ trong phạm vi lãnh thổ thì bên đại lý cũng sẽ chịu một áp lực nhất định về “đầu ra” của sản phẩm hoặc doanh số bán hàng. Bên giao đại lý luôn muốn bên đại lý bán nhiều sản phẩm nhất có thể và tùy thuộc vào khoảng thời gian được hai bên thỏa thuận (có thể là hàng tháng, hàng quý) thì bên đại lý phải đặt mua một lượng hàng/cung cấp dịch vụ nhất định hoặc đạt được chỉ tiêu doanh số tối thiểu. Các quy định này thường được xem như là điều kiện cơ bản mà bên giao đại lý đặt ra cho bên đại lý khi bước vào một Hợp Đồng độc quyền, nếu không đạt được các chỉ tiêu này thì tùy vào mức độ mà bên đại lý có thể không được hưởng thù lao, thưởng hay phần chiết khấu hoặc thậm chí bị chấm dứt Hợp Đồng.

Về phần đại lý, dĩ nhiên họ cũng muốn hướng đến mục tiêu bán được càng nhiều hàng càng tốt để vừa có thể thu được nhiều lợi nhuận, vừa có thể được hưởng phần chiết khấu, thù lao từ bên giao đại lý mà không vi phạm hợp đồng. Do đó, trong quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng đại lý độc quyền thì các bên cần chú trọng đến vấn đề này để cân bằng lợi ích tốt nhất giữa các bên vì đây là một trong những lí do chính gây ra các vụ tranh chấp hợp đồng đại lý độc quyền.

Ngoài các vấn đề trên, bên giao đại lý và bên đại lý cũng cần quan tâm đến các vấn đề giao nhận, thời hạn thanh toán, chính sách đổi trả, thời hạn đại lý trong quá trình đàm phán ký kết hợp đồng đại lý độc quyền. Bên cạnh đó, nếu hợp đồng đại lý độc quyền mà Bên Giao Đại Lý là thương nhân nước ngoài thì các bên phải tham khảo các vấn đề về danh mục hàng hóa được nhập khẩu, nghĩa vụ thu, thủ tục xuất, nhập khẩu từ Điều 50 đến điều 53 Nghị định 69/2018/NĐ-CP và các quy định chung về đại lý thương mại trong Luật Thương mại hiện hành.

[1] Điều 166 Luật Thương Mại 2005

[2] Khoản 2 Điều 169 Luật Thương mại 2005

[3] Khoản 7 Điều 175 Luật thương mại 2005

[4] Khoản 1 Điều 171 Luật Thương mại 2005

Read more...

Tổng quan về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam

1. Các Điều ước quốc tế và các hiệp định hợp tác hỗ trợ lẫn nhau

Đến nay, Việt Nam là thành viên của nhiều điều ước quốc tế trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, bao gồm: 

  • Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của Quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS) và các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan;
  • Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp;
  • Công ước Berne;
  • Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa;
  • Nghị định thư liên quan đến Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa;
  • Công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn, nhà xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng;
  • Hiệp ước hợp tác sáng chế;
  • Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới;
  • Thỏa ước Hague về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp.

2. Nguồn luật trong nước điều chỉnh lĩnh vực sở hữu trí tuệ

Danh sách dưới đây là các văn bản quy phạm pháp luật quy định về bảo hộ và cho thi hành quyền sở hữu trí tuệ trong nước, bao gồm:  

  • Bộ luật Dân sự năm 2015 do Quốc hội Việt Nam thông qua vào tháng 11 năm 2015 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành;
  • Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 do Quốc hội Việt Nam thông qua vào tháng 11 năm 2015 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2016, quy định về trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự và thủ tục công nhận, cho thi hành bản án, quyết định dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành;
  • Bộ luật Hình sự năm 2015 do Quốc hội Việt Nam thông qua vào tháng 11 năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2018;
  • Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 do Quốc hội Việt Nam thông qua vào tháng 11 năm 2015, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, quy định về trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố và thi hành án hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành;
  • Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 do Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2006, được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 36/2009/QH12 ngày 19 tháng 06 năm 2009 và Luật số 42/2019/QH14 (“Luật SHTT Việt Nam”) và các văn bản hướng dẫn thi hành;
  • Luật Cạnh tranh năm 2018 do Quốc hội Việt Nam thông qua vào tháng 06 năm 2018, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2019 và các văn bản hướng dẫn thi hành;
  • Luật Hải quan năm 2018 do Quốc hội Việt Nam thông qua vào tháng 06 năm 2014, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành;
  • Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 do Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 07 năm 2006, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2007 và các văn bản hướng dẫn thi hành;
  • Luật Điện ảnh năm 2006 do Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 06 năm 2006, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2007, được sửa đổi năm 2009 và các văn bản hướng dẫn thi hành;
  • Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 do Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 20 tháng 06 năm 2012, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

3. Hiểu thế nào là quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật SHTT Việt Nam? 

Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với nhãn hiệu, sáng chế, thiết kế hoặc các hình thức sáng tạo khác. Hầu hết mọi tổ chức sở hữu một vài quyền sở hữu trí tuệ, qua đó có thể cấu thành tài sản doanh nghiệp. Các nhóm sở hữu trí tuệ phổ biến hiện nay bao gồm:  

  • Quyền tác giả;
  • Sáng chế;
  • Kiểu dáng công nghiệp;
  • Nhãn hiệu.

 4. Quyền tác giả 

Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Đối tượng bảo hộ của quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học. Đối tượng bảo hộ quyền liên quan bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.

Đăng ký quyền tác giả được khuyến khích và được thực hiện tại Cục Bản quyền tác giả, cơ quan trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Việt Nam là thành viên của Công ước Berne về bảo hộ quyền tác giả. Theo đó, thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh, tác phẩm nhiếp ảnh và mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm kịch và tác phẩm khuyết danh tối thiểu là 50 năm, đối với các tác phẩm khác là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết.

Tại Việt Nam, chương trình máy tính được bảo hộ dưới dạng quyền tác giả và không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế.

5. Sáng chế, giải pháp hữu ích 

Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên. Một số đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế, bao gồm: phát minh, lý thuyết khoa học, phương pháp toán học, giải pháp thẩm mỹ, giống động vật và phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán và chữa bệnh cho người/động vật và các đối tượng khác.

Ở Việt Nam, pháp luật về sáng chế được vận hành theo nguyên tắc “nộp đơn đầu tiên”. Theo đó, nếu hai người đăng ký cùng một sáng chế thì văn bằng bảo hộ sẽ được cấp cho người nộp đơn đầu tiên.

Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền sáng chế nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

  • Có tính mới.
  • Có trình độ sáng tạo.
  • Có khả năng áp dụng công nghiệp.

Khác biệt với nhiều hệ thống pháp luật khác, pháp luật Việt Nam phân biệt giữa sáng chế và giải pháp hữu ích. Quy định về giải pháp hữu ích có nhiều điểm tương đồng với sáng chế, ngoại trừ việc nó không bắt buộc phải có “trình độ sáng tạo”. Theo đó, một giải pháp kỹ thuật hoặc sản phẩm sẽ được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

  • Có tính mới.
  • Có khả năng áp dụng công nghiệp.

Trong khi Bằng độc quyền sáng chế được bảo hộ trong thời hạn tối đa 20 năm, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích có hiệu lực trong vòng 10 năm.

6. Kiểu dáng công nghiệp 

Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này.

Kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

  • Có tính mới.
  • Có tính sáng tạo.
  • Có khả năng áp dụng công nghiệp.

Pháp luật quy định thời hạn bảo hộ đối với Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp là 20 năm, có thể gia hạn hai lần liên tiếp, mỗi lần 05 năm.

7. Nhãn hiệu 

Hệ thống pháp luật về nhãn hiệu tại Việt Nam có nhiều quy định tương tự như với các quốc gia khác. Theo đó, nhãn hiệu là các biểu tượng, màu sắc và các thiết bị trực quan khác được sử dụng để xác định các sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp, có thể gồm dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc. Nhãn hiệu bao gồm nhãn hiệu sản phẩm/dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận 

Các dấu hiệu sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu:

  • Không có khả năng phân biệt (như biểu tượng hình học đơn giản).
  • Trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy của các nước.
  • Dấu hiệu chỉ thời gian, số lượng, chất lượng hoặc các đặc tính khác mang tính mô tả hàng hóa, dịch vụ.
  • Lừa dối người tiêu dùng.
  • Biểu tượng chung của các tổ chức quốc tế hoặc quốc huy.
  • Trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của đã đăng ký hoặc được bảo hộ trên cơ sở đơn đăng ký nhãn hiệu trước đó, hoặc nhãn hiệu được coi là nổi tiếng, được sử dụng rộng rãi và được công nhận, hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ, hoặc kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ.
  • Trái với lợi ích xã hội, trật tự công cộng hoặc đạo đức xã hội.

Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực trong vòng mười năm, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm.

8. Cạnh tranh không lành mạnh 

Theo quy định tại Luật SHTT Việt Nam, các hành vi sau đây bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh:

a) Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ;

b) Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ;

c) Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên, nếu người sử dụng là người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu và việc sử dụng đó không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng;

d) Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng.

Thủ tục xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định chủ yếu trong Luật Cạnh tranh năm 2018. 

9. Thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam 

Ba biện pháp sau đây được áp dụng để thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam, bao gồm:

  • Biện pháp hành chính: Có nhiều cơ quan khác nhau với chức năng và thẩm quyền áp dụng biện pháp hành chính trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Các chế tài có thể bao gồm cảnh cáo, phạt tiền, tịch thu hoặc tiêu hủy hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ, đình chỉ giấy phép kinh doanh hoặc buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với hàng hoá quá cảnh xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc buộc tái xuất đối với hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ. Các biện pháp xử lý vi phạm hành chính được xem là giải pháp hiệu quả và tiết kiệm thời gian. Đây là giải pháp phổ biến nhất để chủ sở hữu xử lý hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, giải pháp này chỉ phù hợp để đối phó với những bên xâm phạm có quy mô nhỏ. Đối với những hành vi xâm phạm quy mô lớn hơn, giải pháp này chỉ phù hợp nếu chủ sở hữu quyền sở hữu tuệ ưu tiên việc ngăn chặn ngay lập tức hành vi xâm phạm quyền thay vì bồi thường thiệt hại.
  • Khởi kiện dân sự: Số lượng các vụ tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ không nhiều nhưng có xu hướng tăng trong những năm gần đây. Tòa án dân sự có thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời và buộc bồi thường thiệt hại. Theo đó, thiệt hai thường được tính dựa trên mức giảm sút về doanh thu hoặc lợi nhuận. Tuy nhiên, trong trường hợp không thể xác định thiệt hại thực tế, mức bồi thường thiệt hại sẽ do Toà án ấn định là không quá năm trăm triệu đồng (khoảng 18,000 EUR).
  • Truy tố hình sự: Chủ sở hữu có thể yêu cầu áp dụng các biện pháp hình sự để xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Hình phạt có thể bao gồm phạt tiền, phạt tù và thậm chí áp dụng hình phạt tử hình đối với vụ việc nghiêm trọng, có tổ chức hoặc có yếu tố kinh doanh thương mại. Tuy nhiên, sự thiếu nhất quán và các hướng dẫn cụ thể trong hệ thống pháp luật dẫn đến biện pháp xử lý hình sự thường ít được áp dụng trên thực tế. Chi phí cho việc truy tố hình sự sẽ do nhà nước chi trả và một phán quyết có lợi có thể là một biện pháp răn đe hữu hiệu đối với những đối tượng có khả năng phạm tội trong tương lai. Thông thường, phải mất khoảng mười hai (12) tháng để giải quyết một vụ án hình sự và thêm mười hai (12) tháng nữa để kết thúc thủ tục kháng cáo.
Read more...