Giải quyết tranh chấp

Chúng tôi có kiến ​​thức địa phương để áp dụng bối cảnh pháp lý, kinh tế, chính trị và văn hóa cho các vấn đề pháp lý và phát triển các chiến lược tình huống. Chúng tôi làm việc với bạn để quản lý rủi ro tiềm ẩn và thực hiện các giải pháp hiệu quả nhất để giảm chi phí tốn kém.

Apolat Legal vượt trội trong việc cung cấp các dịch vụ liên quan đến giải quyết tranh chấp với sự tham gia của các luật sư có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực hành nghề pháp lý và đã tham gia vào một số tranh chấp nghiêm trọng liên quan đến sở hữu trí tuệ, thương mại, lao động, bất động sản.

Sự kết hợp của cả phương pháp chiến lược và phương pháp giải quyết tranh chấp hiệu quả giúp Apolat Legal liên tục đạt được thành công trong các trường hợp phức tạp. Nhân viên tư vấn của Apolat Legal, với trình độ chuyên môn cao và kinh nghiệm cao trong các vụ kiện tụng, trọng tài và các hình thức giải quyết tranh chấp khác bên ngoài tòa án, đã nhận được sự tin tưởng cao từ khách hàng của chúng tôi và được coi là một trong những nhóm chuyên gia có trình độ cao nhất tại Việt Nam bởi cộng đồng chuyên nghiệp.

Chúng tôi tích cực theo đuổi tất cả các con đường giải quyết tranh chấp có sẵn và tư vấn cho khách hàng về việc chọn phương pháp phù hợp nhất với họ và cho một vấn đề cụ thể. Ưu tiên chính của chúng tôi là giải quyết các tranh chấp một cách nhanh chóng và hiệu quả với ít sự gián đoạn đối với hoạt động kinh doanh nhất có thể – công nhận điều này là trọng tâm trong cách chúng tôi tiếp cận bất kỳ vấn đề nào.

Liên hệ

Đinh Quang Long

Luật sư điều hành

Phạm Thị Thoa

Luật sư thành viên

Bài viết liên quan

Dịch vụ tư vấn pháp luật thường xuyên cho Doanh nghiệp

Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp luôn phụ thuộc và bị điều chỉnh bởi các quy định pháp luật có liên quan. Để có thể hoạt động hiệu quả, doanh nghiệp cần kiểm soát tốt các rủi ro pháp lý phát sinh trong quá trình hoạt động của mình. Các doanh nghiệp lớn sẽ lựa chọn việc xây dựng một đội ngũ pháp chế với những luật sư giỏi để có thể hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện xin giấy phép, tư vấn pháp lý và giải quyết các tranh chấp về lao động trong quá trình vận hành của mình.

Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng tiềm lực tài chính để xây dựng bộ phận pháp chế cho công ty mình. Đối với những doanh nghiệp không có đội ngũ pháp chế riêng thì việc sử dụng dịch vụ tư vấn thường xuyên của các đơn vị pháp lý độc lập là sự lựa chọn thông minh.

Hiểu được vấn đề này, Apolat Legal mang đến cho các doanh nghiệp dịch vụ tư vấn pháp lý toàn diện với mức phí hợp lý. Mỗi doanh nghiệp khi lựa chọn dịch vụ tư vấn thường xuyên của Apolat Legal đều sẽ được sắp xếp một đội ngũ cố định trong suốt thời gian sử dụng dịch vụ. Bằng cách này, Apolat Legal đảm bảo sự thấu hiểu khách hàng và giúp khách hàng tiết kiệm thời gian và tránh việc phải cung cấp thông tin trung lập nhiều lần. Bên cạnh đó, doanh nghiệp chỉ phải trả một mức phí cố định hàng tháng để nhận được những tư vấn hữu ích từ Apolat Legal cho hầu hết các vấn đề pháp lý thường nhật mà doanh nghiệp cần.

Hoạt động tư vấn thường xuyên tại Apolat Legal bao gồm nhưng không giới hạn ở những nội dung công việc sau:

  • Giải đáp, tư vấn về các quy định, chính sách của pháp luật và đưa ra các giải pháp pháp lý, giải pháp thực tiễn cho các vụ việc cụ thể theo yêu cầu của Khách Hàng trong các lĩnh vực như đầu tư, xây dựng, bất động sản, đấu thầu, quản trị doanh nghiệp, thương mại điện tử, hợp đồng, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, thương mại trong và ngoài nước, lao động, kinh doanh, sở hữu trí tuệ và các lĩnh vực khác liên quan đến mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Khách Hàng.
  • Xem xét, rà soát và xác nhận tính hợp pháp của các văn bản, tài liệu giao dịch do Khách Hàng soạn thảo hoặc thực hiện liên quan đến hoạt động kinh doanh cũng như góp ý cho các văn bản, tài liệu đó theo yêu cầu của Khách Hàng.
  • Hỗ trợ Khách Hàng trong việc chuẩn bị các tài liệu phục vụ thương thảo, đàm phán hợp đồng (nếu có yêu cầu).
  • Hỗ trợ Khách Hàng soạn thảo các văn bản, tài liệu giao dịch liên quan tới hoạt động kinh doanh của Khách Hàng với bên thứ ba.
  • Tư vấn cho Khách Hàng các vấn đề pháp lý liên quan đến các cuộc thảo luận, thương lượng, đàm phán kinh doanh, các vụ khiếu nại, khiếu kiện hay tranh chấp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc bên thứ ba liên quan đến hoạt động kinh doanh của Khách Hàng. Phạm vi tư vấn không bao gồm việc đại diện thực hiện các công việc cụ thể hoặc đại diện tham gia giải quyết tranh chấp hoặc khiếu nại tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tòa án hoặc trọng tài.
  • Tư vấn cho Khách Hàng về hướng giải quyết chung liên quan đến các vụ khiếu nại, khiếu kiện hay tranh chấp cụ thể.
  • Trong trường hợp có bất kì đối tác của Khách Hàng cần sự trợ giúp pháp lý, theo yêu cầu của Khách Hàng hoặc theo yêu cầu của đối tác đó, chúng tôi sẽ xem xét hỗ trợ cung cấp các dịch vụ pháp lý cho các đối tác của Khách Hàng; nếu đồng ý cung cấp, chúng tôi sẽ cam kết không gây bất kỳ thiệt hại nào tới Khách Hàng hoặc bất kỳ xung đột quyền và nghĩa vụ hợp pháp nào giữa Khách Hàng và đối tác đó.
  • Hỗ trợ, tư vấn cho Khách Hàng trong việc xây dựng, soạn thảo Điều lệ, Nội quy lao động và các quy chế về tổ chức quản lý, điều hành của bộ máy doanh nghiệp và các văn bản quan trọng khác của Khách Hàng trong quá trình hoạt động.

Với dịch vụ chuyên nghiệp, tận tâm và kinh nghiệm trong nhiều lĩnh vực pháp luật, Apolat Legal là người bạn đồng hành đáng tin cậy của mọi doanh nghiệp.

Read more...

ESOP – Trào lưu có đang bị lợi dụng và rủi ro tranh chấp cổ đông tiềm ẩn?

Xuất hiện lần đầu tại San Francisco vào năm 1956 như một công cụ được tạo ra để chuyển quyền sở hữu của hai nhà sáng lập Công ty Peninsula Newspaper Inc (lúc đó đều đang ở độ tuổi 80) cho những người kế nhiệm mà họ đã lựa chọn – là những nhà quản lý và người lao động đã có nhiều cống hiến cho công ty,[1] ESOP (employee stock ownership plan – tạm dịch là “kế hoạch phát hành cổ phần thuộc sở hữu của người lao động” hay “kế hoạch phát hành cổ phần thưởng cho người lao động”) đã dần trở thành một công cụ hữu hiệu được sử dụng trong hoạt động kinh doanh để khuyến khích người lao động gắn bó hơn, cũng như “cống hiến” nhiều hơn cho công ty mà họ làm việc khi thay đổi tâm thế làm việc từ “làm thuê cho người khác” sang “làm cho chính mình”.

Riêng ở Việt Nam, xét về mặt pháp lý, việc dùng cổ phiếu để thưởng hoặc bán lại cho người lao động (kể cả ban quản lý doanh nghiệp) với giá ưu đãi (ESOP) đã được quy định trong các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Doanh Nghiệp năm 1999, cụ thể là Thông tư 19/2003/TT-BTC thông qua việc mua lại cổ phần phổ thông đã phát hành (không quá 30%) để làm cổ phiếu quỹ của công ty cổ phần.[2] Tiếp theo đó, các lần sửa đổi, bổ sung luật doanh nghiệp, luật chứng khoán được ban hành sau đó cũng đã có những quy định chặt chẽ hơn đối với việc áp dụng cổ phiếu quỹ để thưởng cho người lao động, cụ thể như: hạn chế về chủ thể được quyền thực hiện (công ty đại chúng), về trình tự thực hiện, về nguồn vốn…  Tuy nhiên, chỉ từ giai đoạn sau năm 2014 – 2015, đặc biệt là sau khi hàng loạt các doanh nghiệp niêm yết (như SSI, PAN, HBC, MGW,…) dần tiếp cận và bắt đầu thực hiện việc phát hành ESOP, việc áp dụng chế định ESOP mới thật sự được các doanh nghiệp Việt quan tâm. Với các lợi ích về tài chính cả đối với doanh nghiệp và người lao động, và tính khích lệ đối với người lao động, ESOP ngày nay đã không còn là khái niệm xa lạ trong hoạt động kinh doanh tại Việt Nam, thậm chí, đối với nhiều doanh nghiệp niêm yết, việc phát hành ESOP đã dần trở thành một kế hoạch, hoạt động thường niên.

Nhưng nói đi cũng phải nói lại, đi cùng với những lợi ích tích cực dẫn đến việc được áp dụng ngày càng phổ biến, những vấn đề tiêu cực liên quan đến việc phát hành ESOP phát sinh trong những năm gần đây cũng không phải là hiếm. Xuất phát từ tình hình thực tiễn, đặc biệt là trong giai đoạn từ 2018 đến nay, các tranh chấp về lợi ích của các cổ đông trong công ty nói chung và có liên quan đến ESOP nói riêng cũng phát sinh ngày một nhiều, cả từ phía các cổ đông góp vốn và từ những người lao động được thưởng ESOP với công ty, cả về mặt pháp lý lẫn truyền thông, liệu rằng ESOP đang có xu hướng bị sử dụng như một công cụ để trục lợi bởi một bộ phận cổ đông kiêm nhà quản lý của công ty? Nguyên nhân là do đâu?

Theo quan điểm của tác giả, việc lợi dụng ESOP để trục lợi là điều hoàn toàn có thể, thậm chí ESOP, nếu không được sử dụng một cách hợp lý và khách quan, hoàn toàn sẽ trở thành nguyên nhân tranh chấp giữa các cổ đông trong công ty, xuất phát từ những lý do sau:

1| Ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của cổ đông, đặc biệt các cổ đông thiểu số

Mặc dù pháp luật hiện hành quy định rất nhiều điều kiện mà một công ty đại chúng phải đáp ứng để ban hành ESOP. Nhưng trên thực tế, việc một bộ phận cổ đông kiêm nhà quản lý công ty lơi dụng ESOP để trục lợi không phải là một vấn đề quá khó khăn. Theo quy định của luật doanh nghiệp hiện hành, nếu điều lệ công ty không có quy định khác, các nghị quyết liên quan đến việc phát hành ESOP hoàn toàn có thể được thông qua với tỷ lệ ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp tán thành.[3]

Với mức tỷ lệ này, các cổ đông thiểu số sẽ khó mà phản đối, dù rằng với việc phát hành thêm cổ phần ESOP, họ sẽ là những người bị ảnh hưởng đầu tiên bởi việc pha loãng tỷ lệ sở hữu cổ phần trong công ty, đồng nghĩa với việc giảm quyền biểu quyết, quyền ưu tiên mua cổ phần… theo quy định của pháp luật doanh nghiệp. Để làm rõ hơn cho những bạn đọc chưa tiếp xúc nhiều với loại hình công ty cổ phần, pha loãng tỷ lệ sở hữu cổ phần ở đây tức là việc cổ đông bị giảm tỷ lệ sở hữu cổ phần trong công ty khi công ty phát hành cổ phần mới mặc dù số lượng cổ phần mà họ nắm giữ vẫn không đổi, từ đó giảm sức nặng trong quyền biểu quyết các vấn đề của công ty và ảnh hưởng đến các quyền lợi khác của cổ đông có liên quan đến tỷ lệ sở hữu cổ phần (ưu tiên mua cổ phần phát hành mới, đề cử người vào Hội đồng quản trị, ban kiểm soát, yêu cầu triệu tập họp đại hội đồng cổ đông…).Một ví dụ đơn giản để làm rõ việc pha loãng cổ phần do phát hành ESOP như sau: Công ty cổ phần ABC mới được thành lập với vốn điều lệ là 100.000.000 đồng, tương ứng với 10.000 cổ phần phổ thông. Ông X là cổ đông sáng lập nắm giữ 1.000 cổ phần, chiếm 10% cổ phần của Công ty, tương ứng phần vốn góp 10.000.000 đồng. Sau 5 năm hoạt động, Công ty ABC quyết định phát hành thêm 2.000 cổ phần ESOP cho người lao động và tăng vốn điều lệ của công ty lên 120.000.000 đồng. Vì ông X không phải là người lao động của công ty nên không được nhận ESOP, nên sau khi công ty ABC phát hành ESOP xong, mặc dù ông X vẫn sở hữu 1.000 cổ phần trong công ty ABC, nhưng tỷ lệ sở hữu cổ phần của ông X sẽ bị giảm từ 10% ban đầu xuống còn 8.33%, và càng nhiều đợt ESOP, tỷ lệ sở hữu cổ phần của ông X sẽ ngày càng thấp.

Bên cạnh việc bị giảm tỷ lệ sở hữu cổ phần, việc tăng thêm số cổ phần lưu hành trên thị trường với mức giá phát hành thấp hơn giá bán trên thị trường, nếu không có những hạn chế phù hợp sẽ gây ảnh hưởng đến giá cổ phiếu. Năm 2019 vừa qua có thể xem là một thời kỳ phản kháng mạnh mẽ của thị trường khi hàng loạt các công ty niêm yết như PAN (công ty cổ phần tập đoàn PAN), Novaland,… công bố việc thực hiện chào bán cổ phần ESOP theo chương trình lựa chọn cho người lao động rồi lại phải tạm ngừng, hủy bỏ vì giá cổ phiếu sụt giảm quá nhiều.[4]

2| Dễ bị các nhà quản lý công ty lợi dụng để trục lợi.

Theo quy định của pháp luật doanh nghiệp hiện hành, bản chất của ESOP là người lao động đáp ứng đủ điều kiện sẽ được quyền mua một lượng cổ phiếu nhất định do công ty đại chúng phát hành thêm với giá bán thấp hơn giá thị trường tại thời điểm phát hành hoặc người lao động được tặng cho một lượng cổ phiếu nhất định, và phần chênh lệch giữa số tiền thực thu được từ người lao động và giá trị cổ phần chào bán sẽ được các công ty đại chúng bù đắp từ các khoản thu hợp lệ của công ty đã được kiểm toán.[5] Đối tượng được hưởng ESOP sẽ được lựa chọn tùy thuộc vào quy định nội bộ công ty, có thể là người lao động, trong đó, tất nhiên có cả những chức danh quản lý.

Về bản chất, khoản tiền được sử dụng để bù đắp phần chênh lệch giữa việc tăng vốn điều lệ khi phát hành cổ phần ESOP sẽ do công ty chi trả bằng lợi nhuận kinh doanh – do vậy, thực chất ở đây là các cổ đông công ty gián tiếp chi trả bằng các khoản lợi nhuận đáng lẽ mình được hưởng.

Tuy nhiên, thẩm quyền để đưa ra tiêu chuẩn và danh sách người lao động được lựa chọn để phát hành ESOP lại thuộc về Hội đồng quản trị. Trong khi đó, trừ trường hợp điều lệ công ty có quy định khác, với việc lựa chọn thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát thông qua phương thức bầu dồn phiếu theo quy định của luật doanh nghiệp hiện hành, hầu hết các chức danh trong Hội đồng quản trị trên thực tế cũng đồng thời do các cổ đông lớn nắm giữ. Do đó, các cổ đông lớn muốn tăng tỷ lệ sở hữu trong công ty thì việc “sắp xếp” những người lao động nắm giữ vai trò quản lý được chỉ định hưởng ESOP cũng không phải là điều khó khăn. Để ý trong những lần phát hành ESOP của các doanh nghiệp niêm yết, ta hoàn toàn có thể thấy được, không ít trường hợp, phần lớn cổ phần ESOP được chào bán sẽ do các cá nhân nắm vai trò quản lý công ty (đồng thời là cổ đông công ty) đăng ký mua hoặc được thưởng.[6] Trong khi đó, ở chiều ngược lại, cổ đông bị ảnh hưởng rất khó mà chứng minh được việc Hội đồng quản trị không minh bạch trong việc lựa chọn người lao động để áp dụng cơ chế thưởng ESOP.

3| Tranh chấp thỏa thuận cổ đông.

Theo kinh nghiệm của tác giả, khi thực hiện đầu tư, các nhà đầu tư chuyên nghiệp thường yêu cầu các cổ đông công ty ký thêm văn bản thỏa thuận cổ đông, trong đó, các điều khoản “right of first refusal” (quyền ưu tiên mua) hay “anti-diluted right” (quyền chống pha loãng tỷ lệ sở hữu cổ phần) – thường là những điều khoản rất thường xuyên được đưa vào thỏa thuận này. Nhưng thông thường, ESOP lại là một trường hợp được miễn trừ bởi các điều khoản này và nhà đầu tư thường không mấy chú tâm.

Hệ quả ở đây là ESOP hoàn toàn có thể trở thành công cụ để gây ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà đầu tư. Trên thực tế, đã từng có trường hợp một cổ đông ban đầu nắm giữ đến gần 20% cổ phần của một công ty kinh doanh trò chơi điện tử liên hệ đến tác giả để được tư vấn vì các cổ đông lớn của công ty đang tìm cách đẩy họ ra ngoài trong khi công ty đang làm ăn ngày càng phát triển và được một số nhà đầu tư lớn để mắt đến. Nội dung thỏa thuận cổ đông ban đầu tuy rằng có điều khoản chống pha loãng (anti-diluted clause), nhưng lại có một điểm loại trừ duy nhất là điều khoản chống pha loãng này không được áp dụng đối với ESOP. Chính vì điểm này mà các cổ đông còn lại của công ty đã sử dụng ESOP để pha loãng tỷ lệ nắm giữ cổ phần của cổ đông này bị giảm xuống đáng kể sau từng đợt áp dụng ESOP của công ty, dẫn đến việc bất lực phải cân nhắc rút vốn đầu tư của mình. Như đã đề cập tại mục 1, việc giảm tỷ lệ sở hữu cổ phần sẽ ảnh hưởng đáng kể đến quyền lợi của cổ đông như: giảm tỷ lệ cổ phần phát hành mới mà cổ đông được quyền ưu tiên mua, giảm sức nặng của phiếu biểu quyết nghị quyết đại hội đồng cổ đông, khi tỷ lệ sở hữu cổ giảm xuống dưới 10% cổ đông có thể mất quyền triệu tập họp đại hội đồng cổ đông, kiểm tra ghi chép, sổ sách giao dịch của công ty…[7]

Tỷ lệ sở hữu cổ phần bị pha loãng, đi kèm với nguy cơ giá cổ phiếu sụt giảm, cùng cơ chế lựa chọn người lao động được hưởng ESOP không minh bạch là những nguyên nhân hàng đầu khiến không ít cổ đông của các công ty niêm yết không mấy vui vẻ khi thực hiện ESOP. Thậm chí, qua thời gian, các tranh chấp phát sinh liên quan đến ESOP ngày càng phổ biến và phức tạp hơn, đồng thời cũng mở rộng cả về đối tượng bị thiệt hại (người lao động, công ty, cổ đông/nhà đầu tư) và tính chất của vụ việc. Điều này cũng một phần nào minh chứng được việc trào lưu này đã bị lợi dụng để trở thành một công cụ thu lợi kém minh bạch như thế nào.

Với các lợi ích cả về tài chính đối với doanh nghiệp và tính khuyến khích đối với người lao động, ESOP là một công cụ hỗ trợ đắc lực để phục vụ cho hoat động kinh doanh. Nhưng suy cho cùng, ESOP cũng chỉ là một công cụ của nhà quản trị kinh doanh, còn tác động của nó đến doanh nghiệp ra sao lại phụ thuộc vào cách ESOP được sử dụng, người có tâm, có tầm sẽ vận dụng và nhìn vào lợi ích khích lệ mà ESOP mang lại để đạt được hiệu quả tốt nhất cho công ty, cổ đông và người lao động, trong khi kẻ có dã tâm thì lại chỉ khư khư lợi dụng và tìm cách dùng nó để áp đặt và đưa tiền vào túi mình.

[1] Tham khảo: The Origin and History of the ESOP and Its Future Role as a Business Succession Tool – https://www.menke.com/esop-archives/the-origin-and-history-of-the-esop-and-its-future-role-as-a-business-succession-tool/#:~:text=The%20First%20ESOP%20(1956),successors%2C%20the%20managers%20and%20employees.

[2] Điểm 1 Phần III Thông tư 19/2003/TT-BTC về Cổ phiếu quỹ

[3] Khoản 1 Điều 144 Luật Doanh Nghiệp 2014.

[4] Tham khảo tại https://enternews.vn/esop-co-phai-la-toi-do-khien-thi-gia-co-phieu-giam-manh-162009.html

[5] Điều 35 Thông tư 162/2015/TT-BTC của Bộ Tài Chính

[6] Tham khảo thêm tại https://s.cafef.vn/vpb-329974/vpbank-phat-hanh-31-trieu-co-phieu-esop-voi-gia-10000-dongcp-mot-nua-danh-cho-ceo-nguyen-duc-vinh.chn

[7] Khoản 8 Điều 50 Luật Doanh Nghiệp.

Read more...

Giải Quyết Tranh Chấp Thương Mại Bằng Tòa Án Hay Trọng Tài?

Tương tự nhiều quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam hiện cũng có hai cơ chế giải quyết các tranh chấp thương mại tồn tại song song nhau là tòa án và trọng tài thương mại (gọi tắt là “trọng tài”). Thực tế, hình thức trọng tài ở Việt Nam đã được ghi nhận lần đầu trong văn bản pháp lý từ năm 1960, được gọi là trọng tài kinh tế. Tuy nhiên, do đặc thù bối cảnh kinh tế và xã hội lúc bấy giờ, hình thức trọng tài không được biết đến nhiều. Phải đến những năm gần đây, hình thức này mới trở nên phổ biến và được sử dụng nhiều để giải quyết các tranh chấp liên quan đến lĩnh vực thương mại thay cho tòa án nhân dân. Vậy, sự khác biệt giữa hai hình thức này là gì? Đặc điểm nào khiến một hình thức nổi trội hơn hình thức giải quyết còn lại? 

Tòa án nhân dân (gọi tắt là “tòa án”) là cơ quan duy nhất của Nhà nước có chức năng xét xử[1] và chịu sự giám sát của Quốc Hội[2]. Tòa án chịu trách nhiệm xét xử tất cả các tranh chấp phát sinh ở mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội. Trong khi đó, cơ chế trọng tài được xác định là cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài tòa án và trung tâm trọng tài là một đơn vị tư nhân được thành lập và chịu sự kiểm soát của cơ quan Tư pháp. Theo quy định hiện tại, phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài chỉ được thực hiện khi có sự thỏa thuận của các bên và nội dung tranh chấp liên quan đến hoạt động thương mại. Trong một số trường hợp[3], tòa án phải từ chối giải quyết khi các bên đã có thỏa thuận trọng tài[4]. 

Như đã nêu trên, cơ sở để giải quyết tranh chấp thương mại bằng con đường trọng tài là một thỏa thuận trọng tài do các bên lập[5] dưới hình thức văn bản (thỏa thuận riêng hoặc ghi trong hợp đồng)[6], và thỏa thuận này có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp. Trong khi đó, việc giải quyết thông qua tòa án lại không đòi hỏi phải có sự thỏa thuận của các bên, mà chỉ cần có một bên có yêu cầu khởi kiện thì tòa án sẽ tiến hành xem xét và thụ lý vụ việc. 

So với giải quyết tại tòa án theo Bộ luật Tố tụng dân sự, thủ tục giải quyết bằng phương thức trọng tài theo quy định tại Luật Trọng tài thương mại hiện hành đơn giản và tinh gọn hơn rất nhiều. Ví dụ:

  • Thông thường, hòa giải trong tố tụng qua tòa án là bước đi bắt buộc nhưng đối với trọng tài đây là phương án dựa trên sự thỏa thuận của các bên. Hơn nữa, việc hòa giải bằng trọng tài có thể được tiến hành và công nhận hòa giải thành công bất kỳ lúc nào.
  • Ít quy định làm trì hoãn việc xét xử.
  • Tố tụng trọng tài không chia thành sơ thẩm và phúc thẩm, phán quyết khi đưa ra sẽ có giá trị chung thẩm, nếu không có yêu cầu hủy phản quyết.
  • Thời gian, địa điểm giải quyết được ưu tiên cho các bên thỏa thuận lựa chọn, giúp các bên chủ động thời gian và công sức của mình.
  • Quy trình thu thập chứng cứ không phức tạp, giúp hội đồng trọng tài nhanh chóng tiếp cận chứng cứ.
  • Trường hợp các bên tranh chấp vắng mặt mà không có lý do chính đáng thì không tạm hoãn lần đầu như tố tụng tòa án, mà sẽ xem như yêu cầu giải quyết đã bị rút (nếu bên vắng là nguyên đơn), hoặc xét xử vắng mặt (nếu bên vắng mặt là bị đơn). 

Phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm và buộc các bên thi hành. Việc thi hành ban đầu sẽ do các bên tự nguyện thực hiện và chỉ có sự can thiệp của cơ quan thi hành án khi đã quá thời hạn thi hành ghi trong phán quyết và có yêu cầu của bên được thi hành.

Tuy nhiên, nhược điểm của phán quyết của trọng tài có thể bị tòa án có thẩm quyền hủy nếu vi phạm các điều kiện luật định[7] và khi bị hủy các bên sẽ phải tiến hành tố tụng lại từ đầu. Bên cạnh đó, chi phí giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thường lại cao hơn so với tòa án vì tính chất hoạt động của trọng tài là tư nhân.

Mặc dù vẫn có một số nhược điểm, nhưng nhìn chung, đối với các vụ việc tranh chấp thương mại, hình thức tố tụng trọng tài đã và đang bộc lộ rõ ưu thế của mình so với tố tụng tại tòa án. Thực tế, việc số vụ giải quyết tranh chấp qua con đường trọng tài tăng đáng kể là minh chứng rõ cho việc trọng tài thương mại là lựa chọn tốt hơn so với tòa án. Trong hoạt động thương mại, yếu tố thời gian và hiệu quả rất được các bên chú trọng, càng tiết kiệm được nhiều thì hoạt động của họ càng ít bị gián đoạn và hạn chế tổn thất không đáng có, và như vậy, trọng tài thương mại rõ ràng là một lời giải tốt cho bài toán này.   

[1] Khoản 1 Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án 2014

[2] Ngoài ra còn một số cơ quan khác theo Điều 19 Luật Tổ chức Tòa án 2014

[3] Hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP hướng dẫn Luật Trọng tài thương mại 2010

[4] Điều 6 Luật Trọng tài thương mại 2010

[5] Khoản 1 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại 2010

[6] Khoản 2 Điều 16 Luật Trọng tài thương mại 2010

[7] Khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại 2010

Read more...

Giải Quyết Tranh Chấp Hợp Đồng Vận Tải Quốc Tế Khi Các Bên Là Pháp Nhân Không Chọn Luật Áp Dụng

Việc xác định pháp luật áp dụng khi giải quyết tranh chấp đối với các quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài là một trong những yếu tố quan trọng giúp giải quyết tranh chấp bởi các quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài sẽ có thể xảy ra những xung đột pháp luật gây khó khăn cho việc giải quyết tranh chấp. Do đó, việc xác định pháp luật áp dụng để giải quyết tranh chấp có yếu tố nước ngoài sẽ được xác định dựa trên một số quy định, nguyên tắc nhất định, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận trước về luật áp dụng.

Theo đó, tranh chấp phát sinh liên quan đến hợp đồng vận tải hàng hóa quốc tế giữa các pháp nhân Việt Nam (hàng hóa được giao cho người mua hàng tại một cảng ở Hong Kong) trong khi các bên tham gia hợp đồng này không có bất kỳ thỏa thuận nào về pháp luật áp dụng là một ví dụ điển hình có thể đưa ra để phân tích luật áp dụng nhằm giải quyết tranh chấp có yêu tố nước ngoài như sau:

1| Nguồn luật điều chỉnh quan hệ thương mại liên quan đến vận tải hàng hóa đường biển đối với vụ việc nay:

  • Các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam áp dụng để điều chỉnh quan hệ pháp luật này:
    • Bộ Luật Dân Sự 2015 và các văn bản hưởng dẫn thi hành;
    • Luật Hải Quan 2014 và các văn bản hưởng dẫn thi hành;
    • Luật Thương Mại 2005 và các văn bản hưởng dẫn thi hành;
    • Bộ Luật Hàng Hải 2015 và các văn bản hưởng dẫn thi hành;
    • Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan khác.
  • Các Điều ước quốc tế liên quan đến hoạt động vận tải quốc tế:
    • Quy tắc Hauge;
    • Quy tắc Hauge-Visby;
    • Quy tắc Hamburg; 
    • Quy tắc Rotterdam.

Song hiện nay Việt Nam chưa tham gia bất kỳ Điều ước quốc tế nào liên quan đến hoạt động vận tải quốc tế như nêu trên.

Mà Điều 665 BLDS 2015 quy định:

“Điều 665. Áp dụng điều ước quốc tế đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

1.Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì quy định của điều ước quốc tế đó được áp dụng.

2. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Phần này và luật khác về pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì quy định của điều ước quốc tế đó được áp dụng.”

Do đó, các Điều ước quốc tế liên quan đến hoạt động vận tải quốc tế sẽ không được ưu tiên áp dụng để điều chỉnh quan hệ thương mại có yếu tố nước ngoài nêu trên.

2| Luật áp dụng được xác định thep Bộ luật Dân sự 2015:

Theo Điều 664 BLDS 2015 thì pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định như sau:

“Điều 664. Xác định pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

1.Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam.

2.Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam có quy định các bên có quyền lựa chọn thì pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo lựa chọn của các bên.

3.Trường hợp không xác định được pháp luật áp dụng theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đó.

Do đó, trong trường hợp này (i) các bên đã không thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng và (ii) Việt Nam hiện không là thành viên của các điều ước quốc tế liên quan đến hoạt động vận tải/logistic, nên theo khoản 3 Điều 664 BLDS 2015 nêu trên thì pháp luật áp dụng sẽ được xác định theo pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ thương mại có yếu tố nước ngoài đó.

Mà theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 683 BLDS 2015 sau đây thì pháp luật của nước có mối quan hệ gắn bó nhất với hợp đồng là pháp luật của nước nơi người cung cấp dịch vụ thành lập:

“Điều 683. Hợp đồng

  1. Các bên trong quan hệ hợp đồng được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều này. Trường hợp các bên không có thỏa thuận về pháp luật áp dụng thì pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng đó được áp dụng.
  2. Pháp luật của nước sau đây được coi là pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng:

….….

b) Pháp luật của nước nơi người cung cấp dịch vụ cư trú nếu là cá nhân hoặc nơi thành lập nếu là pháp nhân đối với hợp đồng dịch vụ;

.…. 

Trong trường hợp này, cả bên cung cấp dịch và bên sử dụng dịch vụ đều là các pháp nhân Việt Nam, nên căn cứ theo BLDS 2015 thì pháp luật áp dụng sẽ là pháp luật Việt Nam.

3| Luật áp dụng xác định theo quy định của Bộ luật Hàng hải 2015

Đối với quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài có xung đột pháp luật thì nguyên tắc áp dụng pháp luật theo Bộ Luật Hàng Hải Việt Nam 2015 được quy định như sau:

“Điều 3. Nguyên tắc áp dụng pháp luật khi có xung đột pháp luật

….…..

4. Trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đến hợp đồng vận chuyển hàng hóa thì áp dụng pháp luật của quốc gia nơi hàng hóa được trả theo hợp đồng.”

Trong trường hợp này, theo hợp đồng thì hàng hóa được trả ở một cảng ở Hong Kong. Do đó, căn cứ theo quy định của Bộ Luật Hàng Hải Việt Nam 2015 nêu trên, pháp luật áp dụng sẽ là pháp luật Hong Kong.

Trên đây đưa ra các căn cứ xác định pháp luật áp dụng điều chỉnh cho các quan hệ pháp luật dân sự có yêu tố nước ngoài này giữa các bên trong hợp đồng vận tải hàng hóa quốc tế. Tuy nhiên, có thể thấy rằng pháp luật áp dụng được xác định theo Bộ luật Dân sự 2015 và pháp luật áp dụng được xác định theo Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015 là khác nhau, cụ thể:

  • Theo Bộ luật Dân sự 2015: pháp luật Việt Nam điều chỉnh.
  • Theo Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015: pháp luật Trung Quốc điều chỉnh.

Tuy nhiên, tại Khoản 1 Điều 663 BLDS 2015 quy định như sau:

“Điều 663. Phạm vi áp dụng

  1. Phần này quy định về pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.

Trường hợp luật khác có quy định về pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không trái với quy định từ Điều 664 đến Điều 671 của Bộ luật này thì luật đó được áp dụng, nếu trái thì quy định có liên quan của Phần thứ năm của Bộ luật này được áp dụng.

……

Trong trường hợp này, pháp luật áp dụng được xác định theo Khoản 4 Điều 3 Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015 trái với pháp luật áp dụng được xác định theo Khoản 3 Điều 664 Bộ luật Dân sự 2015 nên sẽ áp dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 tức pháp luật Việt nam sẽ được ưu tiên áp dụng để giải quyết tranh chấp Hợp đồng vận tải quốc tế nêu trên.

Read more...

    Liên hệ Apolat Legal