Sở hữu trí tuệ

Quản lý và bảo vệ tài sản trí tuệ đã trở nên ngày càng phức tạp đối với các công ty toàn cầu, thường có các danh mục đầu tư và hoạt động IP lớn trong nhiều khu vực pháp lý với luật pháp và mức độ thực thi IP khác nhau. Những tiến bộ công nghệ nhanh chóng đã cho phép những kẻ vi phạm trở nên tinh vi hơn, và sự gia tăng của sở hữu trí tuệ như một động lực chính của sáp nhập và mua lại đã khiến các chiến lược phát triển để bảo vệ những tài sản này trở nên quan trọng hơn.

Với chuyên môn về hàng cao cấp và thời trang, hàng tiêu dùng nhanh, công nghệ, truyền thông và giải trí, sản xuất và chăm sóc sức khỏe, chúng tôi khuyên khách hàng về quản lý thương hiệu, thực thi thương hiệu, bản quyền, kiện tụng IP, bí mật thương mại, giao dịch IP, tư vấn IP. Dựa trên kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực này, chúng tôi tiếp cận quản lý IP như một vấn đề chiến lược và đã phát triển con người, quy trình và công nghệ để phục vụ khách hàng của chúng tôi.

Chúng tôi luôn mang lại những quan điểm toàn diện để giúp khách hàng quản lí tài sản được tốt bao gồm:

Quản lí tài sản danh mục đầu tư IP tổng thể

  • Chiến lược bảo vệ thương hiệu, thực thi thương hiệu, tìm kiếm và phát triển thương hiệu;
  • Quảng cáo so sánh;
  • Tư vấn về việc thiết lập, bảo vệ và tận dụng IPR không đăng ký (đăng ký bảo hộ tại Việt Nam và nước ngoài);
  • Quyền khai thác, khu vực và toàn cầu;
  • Chống hàng giả và các chương trình thực thi khác;
  • Tranh chấp IPR trên Internet: tên miền, trò chuyện mạng, liên kết, đóng khung, dán tường, xử lý lỗi, thẻ meta và chương trình từ khóa;
  • Kiểm toán IP;
  • Thẩm định IP;
  • Cấp phép, nhượng quyền thương mại và giao dịch sở hữu trí tuệ khác;
  • Chiến lược đăng ký nhãn hiệu, bằng sáng chế và thiết kế;
  • Tìm kiếm và điều tra báo cáo, phát triển toàn cầu và nộp hồ sơ chiến lược;
  • Hỗ trợ kỹ thuật và thỏa thuận chuyển giao công nghệ; thực tiễn thương mại và luật cạnh tranh không lành mạnh;
  • Hỗ trợ kỹ thuật và thỏa thuận chuyển giao công nghệ; thực tiễn thương mại và luật cạnh tranh không lành mạnh;
  • Tư vấn giá trị gia tăng về định giá, đánh giá kỹ thuật, cấp phép, thu hồi tiền bản quyền, chiến lược thuế.

Giải trí và truyền thông

  • Chứng thực và tài trợ;
  • Thỏa thuận đại diện quản lí;
  • Giấy phép bán hàng và xuất bản.

Âm nhạc và sân khấu

  • Thỏa thuận phân loại hồ sơ;
  • Thỏa thuận cam kết tài năng;
  • Thuế và tài chính.

Công nghệ viễn thông

  • Cạnh tranh và quy định;
  • Mua sắm công nghệ thông tin và quy định;
  • Hạ tầng viễn thông.

Thực thi hành chính tại Việt Nam

  • Làm việc với cơ quan có thẩm quyền để cung cấp giải pháp cho việc thực thi IP;
  • Quản lý cạnh tranh không lành mạnh / bỏ qua thành công trong các lĩnh vực sản phẩm và ngành công nghiệp khác nhau.

Biên phòng ở Việt Nam

  • Sử dụng thông tin xuất nhập khẩu;
  • Hỗ trợ khách hàng ghi nhận quyền lợi với Hải quan tại Việt Nam;
  • Liên lạc với Hải quan và cảnh báo hàng giả tại Việt Nam;
  • Hỗ trợ khách hàng xác nhận hàng bị giam giữ là hàng giả tại Việt Nam;

Khởi tố dân sự ở Việt Nam

  • Hỗ trợ điều tra trước khi xét xử;
  • Có được lệnh và biện pháp tạm thời để bảo vệ tài sản khỏi di chuyển ra khỏi khu vực tài phán;
  • Tư vấn mua sắm trên diễn đàn;
  • Phối hợp với luật sư tại các khu vực pháp lý khác nhau để theo đuổi các vụ truy tố dân sự và có được lệnh cấm đối với những người vi phạm trên phạm vi toàn cầu;
  • Các thủ tục pháp lý và điều tra kỹ lưỡng để truy tìm các nguồn vi phạm trên toàn thế giới.

Liên hệ

Phạm Thị Thoa

Luật sư thành viên

Bài viết liên quan

Đăng ký nhãn hiệu ở Đông Nam Á (phần 2)

4. Những điểm cần lưu ý khi đăng ký nhãn hiệu ở Thái Lan (tiếp theo):

Các loại nhãn hiệu ở Thái Lan: Ngoài nhãn hiệu chứng nhận và nhãn hiệu tập thể tương tự như các nước khác, Luật Nhãn hiệu (số 3) B.E 2559 của Thái Lan còn Luật Nhãn hiệu Thái Lan phân chia nhãn hiệu thành nhãn hiệu dùng cho sản phẩm và nhãn hiệu dùng cho dịch vụ như sau:

  • Nhãn hàng hóa: là nhãn biểu trưng cho hoặc có liên quan tới một sản phẩm;
  • Nhãn dịch vụ: là nhãn biểu trưng cho hoặc có liên quan tới một dịch vụ.

Gia hạn đăng ký nhãn hiệu: Tương tự như hầu hết các quốc gia Đông Nam Á khác, nhãn hiệu được đăng ký sẽ được bảo hộ trong 10 năm kể từ ngày đăng ký. Sự bảo hộ có thể được gia hạn 10 năm cho mỗi lần gia hạn. Người nộp đơn mong muốn gia hạn bảo hộ phải nộp đơn đến cơ quan đăng ký không chậm hơn 3 tháng trước ngày hết thời hạn bảo hộ hoặc trong vòng 6 tháng kể từ ngày hết thời hạn bảo hộ. Nếu người nộp đơn không nộp đầy đủ hồ sơ bổ sung trong khoảng thời gian vừa nêu, họ sẽ bị xem như là từ chối việc nộp đơn gia hạn. 

5. Những điểm cần lưu ý khi đăng ký nhãn hiệu ở Philippine:

Các  chủ thể có quyền đăng ký: Nhìn chung, ở các quốc gia khác, khi nhận được đơn đăng ký nhãn hiệu, Cơ quan Sở hữu trí tuệ chỉ xem xét khả năng bảo hộ của nhãn hiệu đó trong phạm vi các nhãn hiệu đã được đăng ký và bảo hộ trên lãnh thổ của quốc gia đó. Khi nhận được kháng cáo/khiếu nại từ các bên thứ ba khác chứng minh việc đăng ký đã được tiến hành trên cơ sở không trung thực và có bằng chứng rõ ràng cho việc đó, Cơ quan Sở hữu trí tuệ sẽ từ chối chứng nhận hoặc hủy bỏ hiệu lực của văn bằng bảo hộ đã cấp. Tuy nhiên, ở Philippine, Cơ quan tư pháp vào tháng 2 năm 1983 đã tuyên bố trong vụ kiện Unno Commercial enterprises VS. General Milling Corporation rằng “Quyền đăng ký bảo hộ cho nhãn hiệu phải dựa trên quyền sở hữu của nhãn hiệu đó. Khi người nộp đơn không phải là chủ sở hữu của nhãn hiệu được đăng ký, người đó không có quyền đăng ký bảo hộ cho nhãn hiệu đó. Theo quy định của Luật về Nhãn hiệu, chỉ có chủ sở hữu nhãn hiệu, tên thương mại hoặc nhãn dịch vụ dùng để phân biệt hàng hóa, công việc kinh doanh hoặc dịch vụ của họ với hàng hóa, công việc kinh doanh hoặc dịch vụ của những chủ thể khác mới có quyền đăng ký bảo hộ.”

Theo đó, Cơ quan Sở hữu trí tuệ của Philippine có quyền từ chối đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu nếu họ có cơ sở để cho rằng chủ sở hữu của nhãn hiệu đó không phải là người nộp đơn, bất kể nhãn hiệu đó có được đăng ký bảo hộ ở Philippine bởi chủ sở hữu thật sự hay chưa. 

Tuy nhiên, trên thực tế, Cơ quan Sở hữu trí tuệ của Philippine vẫn chấp nhận đơn đăng ký trong trường hợp người nộp đơn cung cấp được thư đồng thuận đã được công chứng được ký bởi chữ ký của chủ sở hữu thật sự của nhãn hiệu, trong đó cho phép người nộp đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu ở Philippine. Ngoài ra, thỏa thuận cùng tồn tại cũng là một lựa chọn có thể được chấp thuận khác, tuy nhiên trên thực tế, Cơ quan Sở hữu trí tuệ ở Philippine không luôn luôn chấp nhận một tài liệu như vậy.  Lý do là vì cơ quan chức năng đôi lúc thấy rằng vẫn tiềm ẩn khả năng bị nhầm lẫn đối với một bộ phận công chúng, hoặc khiến công chúng hiểu nhầm, nếu các bên trong thỏa thuận không có quan hệ gì với nhau mà chỉ đồng ý cùng tồn tại.

Thời hạn phản đối: Nhãn hiệu được chấp thuận sẽ được đăng trên Cổng thông tin của Cơ quan Sở hữu trí tuệ của Philippine, và công chúng sẽ có 30 ngày để đưa ra các động thái có liên quan. Nếu không có sự phản đối nào được gửi đến và kiểm chứng bởi Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Cơ quan Sở hữu trí tuệ sẽ cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu.

Tuyên bố về việc sử dụng trên thực tế: Luật Sở hữu trí tuệ Philippine cũng yêu cầu Tuyên bố về việc sử dụng trên thực tế cùng với bằng chứng cho việc sử dụng phải được nộp đến Cơ quan Sở hữu trí tuệ của Philippine theo lộ trình sau:

  • Tuyên bố về việc sử dụng trên thực tế được nộp trong vòng ba (3) năm kể từ ngày nộp đơn đăng ký nhãn hiệu;
  • Tuyên bố về việc sử dụng trên thực tế được nộp trong vòng một (1) năm kể từ kỷ niệm năm năm đăng ký / trong vòng một (1) năm kể từ kỷ niệm năm năm của việc gia hạn đăng ký; và
  • Tuyên bố về việc sử dụng trên thực tế được nộp trong vòng một (1) năm kể từ ngày gia hạn đăng ký (*Yêu cầu bổ sung này áp dụng cho tất cả nhãn hiệu đến hạn gia hạn vào ngày 1 tháng 7 năm 2017 trở về sau, bất kể ngày nộp yêu cầu gia hạn).

Đây là một yêu cầu bắt buộc, nếu Tuyên bố về việc sử dụng trên thực tế không được nộp, đơn đăng ký sẽ bị từ chối hoặc nhãn hiệu sẽ bị xóa khỏi Sổ đăng ký. 

Tuy nhiên, nếu người đăng ký có lý do hợp lệ về việc bị cấm sử dụng nhãn hiệu, một Tuyên bố về việc không sử dụng có thể được gửi đi thay cho Tuyên bố về việc sử dụng trên thực tế. Mặc dù vậy, việc không sử dụng nhãn hiệu chỉ có thể được chấp nhận trong các trường hợp sau:

  • chủ sở hữu nhãn hiệu được đăng ký bị cấm sử dụng nhãn hiệu theo yêu cầu của một cơ quan chính phủ khác;
  • tồn tại một lệnh cấm của Tòa án, Cơ quan Sở hữu trí tuệ hoặc các cơ quan bán tư pháp khác ngăn chặn việc sử dụng hoặc;
  • nhãn hiệu là chủ thể của trường hợp phản đối hoặc hủy bỏ.

6. Đăng ký nhãn hiệu ở Lào:

Cơ quan đăng ký có thẩm quyền: Ở Lào, người nộp đơn có thể nộp đơn đăng ký nhãn hiệu cho một trong các cơ quan sau đây: Khoa học và Công nghệ Lào, Cơ quan Sở hữu trí tuệ; Bộ phận Nhãn hiệu và Nguồn Gốc.

Hồ sơ ủy quyền cho đại diện: Giấy ủy quyền cần được ký công chứng và được dịch sang tiếng anh (nếu lập bằng ngôn ngữ khác ngoài tiếng Lào và tiếng Anh).

Gia hạn hiệu lực văn bằng bảo hộ nhãn hiệu: Chủ sở hữu nhãn hiệu phải nộp phí gia hạn trong vòng 12 tháng trước ngày hết hạn, có thể nộp muộn trong vòng 06 tháng kể từ ngày hết hạn nếu chủ đơn có lý do chính đáng.

Thời gian để bên thứ ba phản đối việc đăng ký nhãn hiệu: trong thời hạn 60 ngày từ ngày đăng công báo.

Hủy bỏ văn bằng bảo hộ do không sử dụng: tương tự như ở Việt Nam, nếu nhãn hiệu đã được cấp văn bằng bảo hộ ở Lào nhưng không được sử dụng trong thời hạn 05 năm liên tiếp thì người khác có quyền yêu cần hủy bỏ giấy chứng nhận đối với nhãn hiệu nêu trên.

7. Đăng ký nhãn hiệu ở Myanmar:

Hủy bỏ văn bằng bảo hộ do không sử dụng: nếu nhãn hiệu đã đăng ký và được được cấp văn bằng ở Myanmar nhưng không được sử dụng trong thời hạn 03 năm liên tiếp thì người khác có quyền yêu cần hủy bỏ giấy chứng nhận đối với nhãn hiệu nêu trên.

Thời gian để bên thứ ba phản đối việc đăng ký nhãn hiệu: trong thời hạn 60 ngày từ ngày đăng công báo.

8. Đăng ký nhãn hiệu ở Việt Nam:

Thời gian để bên thứ ba phản đối việc đăng ký nhãn hiệu: Kể từ ngày đơn đăng ký nhãn hiệu được công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp đến trước ngày ra quyết định cấp văn bằng bảo hộ.

Gia hạn nhãn hiệu: Người nộp đơn được quyền gia hạn nhãn hiệu nhiều lần, mỗi lần 10 năm. Nhưng phải nộp phí gia hạn trước 06 tháng trước thời điểm hết hạn, hoặc có thể nộp muộn trong vòng 06 tháng kể từ ngày hết hạn. Nếu nộp muộn thì chủ đơn phải nộp thêm 10% lệ phí gia hạn cho mỗi tháng nộp muộn.

Read more...

Dịch vụ tư vấn pháp luật thường xuyên cho Doanh nghiệp

Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp luôn phụ thuộc và bị điều chỉnh bởi các quy định pháp luật có liên quan. Để có thể hoạt động hiệu quả, doanh nghiệp cần kiểm soát tốt các rủi ro pháp lý phát sinh trong quá trình hoạt động của mình. Các doanh nghiệp lớn sẽ lựa chọn việc xây dựng một đội ngũ pháp chế với những luật sư giỏi để có thể hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện xin giấy phép, tư vấn pháp lý và giải quyết các tranh chấp về lao động trong quá trình vận hành của mình.

Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng tiềm lực tài chính để xây dựng bộ phận pháp chế cho công ty mình. Đối với những doanh nghiệp không có đội ngũ pháp chế riêng thì việc sử dụng dịch vụ tư vấn thường xuyên của các đơn vị pháp lý độc lập là sự lựa chọn thông minh.

Hiểu được vấn đề này, Apolat Legal mang đến cho các doanh nghiệp dịch vụ tư vấn pháp lý toàn diện với mức phí hợp lý. Mỗi doanh nghiệp khi lựa chọn dịch vụ tư vấn thường xuyên của Apolat Legal đều sẽ được sắp xếp một đội ngũ cố định trong suốt thời gian sử dụng dịch vụ. Bằng cách này, Apolat Legal đảm bảo sự thấu hiểu khách hàng và giúp khách hàng tiết kiệm thời gian và tránh việc phải cung cấp thông tin trung lập nhiều lần. Bên cạnh đó, doanh nghiệp chỉ phải trả một mức phí cố định hàng tháng để nhận được những tư vấn hữu ích từ Apolat Legal cho hầu hết các vấn đề pháp lý thường nhật mà doanh nghiệp cần.

Hoạt động tư vấn thường xuyên tại Apolat Legal bao gồm nhưng không giới hạn ở những nội dung công việc sau:

  • Giải đáp, tư vấn về các quy định, chính sách của pháp luật và đưa ra các giải pháp pháp lý, giải pháp thực tiễn cho các vụ việc cụ thể theo yêu cầu của Khách Hàng trong các lĩnh vực như đầu tư, xây dựng, bất động sản, đấu thầu, quản trị doanh nghiệp, thương mại điện tử, hợp đồng, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, thương mại trong và ngoài nước, lao động, kinh doanh, sở hữu trí tuệ và các lĩnh vực khác liên quan đến mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Khách Hàng.
  • Xem xét, rà soát và xác nhận tính hợp pháp của các văn bản, tài liệu giao dịch do Khách Hàng soạn thảo hoặc thực hiện liên quan đến hoạt động kinh doanh cũng như góp ý cho các văn bản, tài liệu đó theo yêu cầu của Khách Hàng.
  • Hỗ trợ Khách Hàng trong việc chuẩn bị các tài liệu phục vụ thương thảo, đàm phán hợp đồng (nếu có yêu cầu).
  • Hỗ trợ Khách Hàng soạn thảo các văn bản, tài liệu giao dịch liên quan tới hoạt động kinh doanh của Khách Hàng với bên thứ ba.
  • Tư vấn cho Khách Hàng các vấn đề pháp lý liên quan đến các cuộc thảo luận, thương lượng, đàm phán kinh doanh, các vụ khiếu nại, khiếu kiện hay tranh chấp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc bên thứ ba liên quan đến hoạt động kinh doanh của Khách Hàng. Phạm vi tư vấn không bao gồm việc đại diện thực hiện các công việc cụ thể hoặc đại diện tham gia giải quyết tranh chấp hoặc khiếu nại tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tòa án hoặc trọng tài.
  • Tư vấn cho Khách Hàng về hướng giải quyết chung liên quan đến các vụ khiếu nại, khiếu kiện hay tranh chấp cụ thể.
  • Trong trường hợp có bất kì đối tác của Khách Hàng cần sự trợ giúp pháp lý, theo yêu cầu của Khách Hàng hoặc theo yêu cầu của đối tác đó, chúng tôi sẽ xem xét hỗ trợ cung cấp các dịch vụ pháp lý cho các đối tác của Khách Hàng; nếu đồng ý cung cấp, chúng tôi sẽ cam kết không gây bất kỳ thiệt hại nào tới Khách Hàng hoặc bất kỳ xung đột quyền và nghĩa vụ hợp pháp nào giữa Khách Hàng và đối tác đó.
  • Hỗ trợ, tư vấn cho Khách Hàng trong việc xây dựng, soạn thảo Điều lệ, Nội quy lao động và các quy chế về tổ chức quản lý, điều hành của bộ máy doanh nghiệp và các văn bản quan trọng khác của Khách Hàng trong quá trình hoạt động.

Với dịch vụ chuyên nghiệp, tận tâm và kinh nghiệm trong nhiều lĩnh vực pháp luật, Apolat Legal là người bạn đồng hành đáng tin cậy của mọi doanh nghiệp.

Read more...

Nguyên tắc “nộp đơn đầu tiên” trong việc bảo hộ các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ

Trong môi trường thương mại hóa toàn cầu và thị trường ngày càng đông đúc, các doanh nghiệp phải thường xuyên cải tiến, áp dụng các phương pháp mới trong sản xuất, bán hàng, tiếp thị sản phẩm để duy trì và nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường quốc tế. Song song với việc đổi mới, sáng tạo của các chủ thể kinh doanh, nhiều công cụ được hệ thống pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) tạo ra nhằm cung cấp cho chủ sở hữu công cụ để bảo hộ các phương án quản lý, thành quả đổi mới, tri thức và sự sáng tạo của họ. Quyền SHTT thúc đẩy các công ty tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm của họ so với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh, cũng như có được sự độc quyền bình đẳng giúp giảm rủi ro liên quan đến việc giới thiệu sản phẩm mới ra hoặc đưa ra cải tiến mới đến tay người tiêu dùng. Trên thực tế chúng ta vẫn thường xuyên gặp trường hợp các ý tưởng bị trùng lặp hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn cùng được nộp hồ sơ đăng ký bảo hộ. Tuy nhiên, với nguyên tắc “first to file” (nguyên tắc nộp đơn đầu tiên), pháp luật chỉ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho một chủ sở hữu duy nhất là người đầu tiên nộp đơn đăng ký. 

Nguyên tắc “first to file” trong pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam

Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên trong pháp luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam xuất phát từ quy định về “nguyên tắc ưu tiên” trong Công ước Paris 1883 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp mà Việt Nam là thành viên). Đây là một trong hai nguyên tắc nộp đơn đang được hầu hết các nước thế giới sử dụng khi đăng ký bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ: nguyên tắc nộp đơn đầu tiên “first to file” và nguyên tắc sử dụng đầu tiên “first to use”. Theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên được quy định tại Điều 90 Luật SHTT, trong trường hợp có nhiều chủ đơn khác nhau cùng nộp các đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp trùng hoặc không khác biệt hoặc các nhãn hiệu trùng hoặc tương tư với nhau cho cùng nhóm sản phẩm, dịch vụ trùng hoặc tương tự nhau thì đơn đăng ký được chấp thuận bảo hộ là đơn có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn đầu tiên. Trong trường hợp có nhiều đơn của nhiều chủ đơn khác nhau cùng nộp cho một đối tượng có cùng ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn đầu tiên thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho đối tượng của một đơn duy nhất trong số các đơn theo thỏa thuận các các chủ đơn này. Nếu các chủ đơn không thỏa thuận được thì toàn bộ đơn đăng ký của đối tượng đó sẽ bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ. 

Bên cạnh nguyên tắc nộp đơn đầu tiên, trong trường hợp chủ đơn sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu mong muốn mở rộng phạm vi bảo hộ ra các quốc gia khác, chủ đơn có thể áp dụng nguyên tắc ưu tiên để nâng cao khả năng bảo hộ cho tài sản trí tuệ của mình. Nguyên tắc này sẽ được áp dụng khi có ít nhất hai đơn cùng đăng kí để bảo hộ cho cùng một sáng chế, kiểu dáng công nghiệp hay nhãn hiệu và người nộp đơn có yêu cầu và nộp lệ phí để hưởng quyền ưu tiên. Nguyên tắc ưu tiên đã được ghi nhận tại Điều 4 Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp và được quy định tại Điều 91 Luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam (được hướng dẫn cụ thể tại Điều 10 Nghị định 103/2006/NĐ-CP). Tuy nhiên, quyền yêu cầu hưởng quyền ưu tiên cho đối tượng đã được nộp trong đơn đầu tiên tại Việt Nam hoặc tại các quốc gia là thành viên của Công ước Paris về sở hữu công nghiệp, Công ước PCT về bảo hộ sáng chế chỉ áp dụng trong thời hạn nhất định, cụ thể: (1) đối với sáng chế, thời hạn hưởng quyền ưu tiên là 12 tháng kể từ ngày nộp đơn đầu tiên, (2) đối với kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu, thời hạn hưởng quyền ưu tiên là 06 tháng kể từ ngày nộp đơn đầu tiên. 

Mối quan hệ giữa nguyên tắc nộp đơn đầu tiên và nguyên tắc ưu tiên

Khi xem xét mối quan hệ giữa nguyên tắc nộp đơn đầu tiên và nguyên tắc ưu tiên, một số ý kiến cho rằng nguyên tắc ưu tiên là một trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc nộp đơn đầu tiên. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, nguyên tắc nộp đơn đầu tiên và nguyên tắc ưu tiên là hai nguyên tắc độc lập nhưng bổ trợ cho nhau và cùng giúp chủ đơn đăng ký có lợi thế hơn khi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của mình tại quốc gia khác. Cụ thể, quyền ưu tiên là quyền của người nộp đơn trên cơ sở có một đơn hợp lệ đầu tiên đã được nộp tại một quốc gia là thành viên điều ước quốc tế có quy định về quyền ưu tiên, trong một thời hạn nhất định, người nộp đơn có thể nộp đơn yêu cầu bảo hộ sáng chế, kiểu dáng công nghiệp hoặc nhãn hiệu đó tại một quốc gia thành viên khác và đơn nộp sau đó được coi như nộp cùng ngày với đơn đầu tiên. Ngày ưu tiên là ngày nộp đơn của đơn đầu tiên, đồng thời ngày nộp đơn của đơn đầu tiên lại được xác định theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên. Do đó, nguyên tắc ưu tiên không phải là một trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc nộp đơn đầu tiên.

Đối tượng sở hữu công nghiệp được áp dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên và nguyên tắc ưu tiên

Quyền đối với đối tượng sở hữu trí tuệ được phát sinh theo hai cơ chế: (1) cơ chế tự động (tạo ra tác phẩm hoặc thông qua quá trình sử dụng mà không cần đăng ký) bao gồm quyền tác giả, quyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng, tên thương mại, bí mật kinh doanh; (2) cơ chế phát sinh quyền thông qua văn bằng bảo hộ như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu (trừ nhãn hiệu nổi tiếng); thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn và chỉ dẫn địa lý. Tuy nhiên, nguyên tắc nộp đơn đầu tiên và nguyên tắc ưu tiên chỉ áp dụng cho 3 đối tượng là sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu theo quy định tại Điều 90 và Điều 91 Luật SHTT. Theo đó, pháp luật Việt Nam không quy định nguyên tắc nộp đơn đầu tiên và nguyên tắc ưu tiên đối với chỉ dẫn địa lý và thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn. Quy định này khá phù hợp với Công ước Paris và thực tiễn áp dụng, bởi lẽ quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý thuộc về Nhà Nước, việc nộp đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý là do Nhà nước cho phép tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý, tổ chức tập thể đại diện cho các tổ chức, cá nhân đó hoặc cơ quan quản lý nhà nước hành chính địa phương nơi có chỉ dẫn địa lý thực hiện quyền đăng ký và Nhà nước là chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý (Điều 88 Luật SHTT), do đó việc tranh chấp trong nộp đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý rất khó xảy ra. Đối với thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, thực tế cho thấy có rất ít trường hợp các chủ thể cùng nhau nộp đơn đăng ký giống nhau cho đối tượng này.  

Qua việc phân tích nêu trên, chúng ta có thể thấy rằng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên (first to file) là một trong những nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất trong hệ thống pháp luật bảo hộ sở hữu công nghiệp của các quốc gia. Nguyên tắc này không cho phép sự châm trễ trong việc nộp đơn đăng kí nếu chủ đơn mong muốn được cấp văn bằng bảo hộ, từ đó “First to file” cũng có thể được coi một công cụ thúc đẩy việc nộp đơn được tiến hành nhanh chóng và hiệu quả, từ đó đẩy mạnh việc bảo hộ các tài sản trí tuệ. Không những thế nguyên tắc nộp đơn đầu tiên còn giúp nâng cao ý thức của chủ thể kinh doanh trong việc nắm giữ các đối tượng sở hữu công nghiệp để bảo vệ tốt hơn quyền của mình.

Read more...

Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp trên mạng xã hội, xử lí ra sao?

2020 là một năm đầy biến động, đại dịch SARS-CoV-2 khởi nguồn vào khoảng tháng 11 năm 2019 tại thành phố Vũ Hán, Trung Quốc với sự lây lan nhanh chóng của nó đã làm biến đổi hoàn toàn cách thức tương tác của cộng đồng, từ trực tiếp thành trực tuyến, từ kết nối cộng đồng thành giãn cách xã hội… Tuy nhiên, đại dịch cũng tạo nên cơ hội cho bước chuyển mình mạnh mẽ của các doanh nghiệp, áp dụng công nghệ vào hoạt động kinh doanh thương mại, biến môi trường số trở thành công cụ kinh doanh, sinh lợi. Các mạng xã hội như Facebook, Instagram, Twitter… dần trở thành phương tiện giao tiếp, cung cấp thông tin chính giữa các cá nhân và cũng là một trong những công cụ không thể bỏ qua trong hoạt động kinh doanh của thương nhân.

Với việc lan truyền, phát tán thông tin nhanh chóng, dễ dàng, việc tiếp cận và quảng bá sản phẩm/dịch vụ trên diện rộng, các hoạt động kinh doanh online và qua mạng xã hội đang dần trở nên quen thuộc hơn với cả chủ thể kinh doanh và người tiêu dùng. Các mạng xã hội, vì đó, cũng dẫn trở thành một thị trường béo bở cho những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, nhưng không phải doanh nghiệp, thương nhân nào cũng hiểu rõ những biện pháp để tự bảo vệ hoạt động kinh doanh của mình khi thực hiện kinh doanh online, hay khi bị xâm phạm, cạnh tranh không lành mạnh bởi các chủ thể khác trên các trang mạng xã hội. Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả chỉ đưa ra các phân tích, đánh giá phương án xử lý một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh phổ biến trên mạng xã hội đối với các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh thương mại trên cơ sở của pháp luật Việt Nam.

Tung thông tin “bẩn”, không chính xác về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Với số lượng người dùng rất lớn, khả năng truyền tin nhanh, và người dùng thường không kiểm chứng  được tính chính xác của thông tin, mạng xã hội trở thành nơi  thông tin “bẩn”, không chính xác thường được đăng tại tải.  Câu chuyện về chất lượng nguồn nguyên liệu sữa của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) không rõ ràng vào khoảng cuối năm 2019 là một trong những ví dụ điển hình về sức ảnh hưởng của những thông tin “bẩn” đối với các doanh nghiệp. Các đối thủ cạnh tranh chỉ cần đưa ra các thông tin mập mờ về chất lượng nguồn nguyên liệu hay những thông tin thiếu căn cứ về thành phần sản phẩm, dựa vào tốc độ chia sẽ và truyền thông tin nhanh đến chóng mặt và phạm vi truy cập rộng khắp của môi trường số, Vinamilk đã phải đối mặt với nguy cơ mất hàng tỷ đồng vốn hóa trên thị trường chứng khoán. Hay như thông tin lan truyền trên mạng xã hội về những vạch màu tại phần đuôi kem đánh răng thể hiện thành phần có trong loại kem đánh răng đó là có nguồn gốc tự nhiên hay hóa học cũng gây hoang mang dư luận và tâm lý người tiêu dùng, làm ảnh hưởng đến doanh số bán hàng của các hãng sản xuất kem đánh răng như P/S, Coggate trong một thời gian. 

Hiện nay, việc xử lý hành vi đăng tải thông tin không chính xác trên các trang mạng xã hội đã được Chính Phủ Việt Nam quy định cụ thể tại Nghị định số 15/2020/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử, trong đó:

Các hành vi lợi dụng mạng xã hội để:

  • Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân;
  • Cung cấp, chia sẻ thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân, kích động bạo lực, tội ác, tệ nạn xã hội, đánh bạc hoặc phục vụ đánh bạc.

Có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng theo quy định tại Điều 101, Nghị định số 15/2020/NĐ-CP, hoặc tùy vào mức độ và hành vi đăng thông tin sai sự thật, các tổ chức/cá nhân đăng tin có thể bị xử lý về hành vi cung cấp thông tin không trung thực về doanh nghiệp khác theo quy định tại Khoản 1,2 Điều 18 Nghị định 75/2019/NĐ-CP với mức phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng. Tổ chức, cá nhân bị ảnh hưởng bởi các hành vi đăng tải thông tin sai sự thật, có thể yêu cầu cơ quan công an hoặc ủy ban nhân dân xử lý các hành vi đăng tải thông tin sai sự thật nêu trên.

>> Xem thêm: Sửa đổi Luật sở hữu trí tuệ: Bảo vệ quyền tác giả trong bối cảnh kinh tế nền tảng.

Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp trên mạng xã hội

Bên cạnh hành vi tung tin giả gây ảnh hưởng đến hoat động kinh doanh của doanh nghiệp, viêc lập những trang mạng xã hội với các dấu hiệu, biểu tượng trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu, tên thương mại, dấu hiệu nhận diện của các doanh nghiệp khác để kinh doanh mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu của các nhãn hiệu, tên thương mại, dấu hiệu đó cũng là một trong những hành vi vi phạm phổ biến hiện nay.

Các hành vi này có thể bị coi là hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đã được bảo hộ nếu các nhãn hiệu, tên thương mại, dấu hiệu nhận diện đó đã được doanh nghiệp đăng ký bảo hộ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc cạnh tranh không lành mạnh theo quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ, bao gồm:

Điều 130. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh

1. Các hành vi sau đây bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh:

a) Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ;

b) Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ;

….

2. Chỉ dẫn thương mại quy định tại khoản 1 Điều này là các dấu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hoá, dịch vụ, bao gồm nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hoá, nhãn hàng hoá. 

3. Hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm các hành vi gắn chỉ dẫn thương mại đó lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch kinh doanh, phương tiện quảng cáo; bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu hàng hoá có gắn chỉ dẫn thương mại đó.”

Khi gặp phải các hành vi xâm phạm đối với các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ của mình trên các trang mạng xã hội, doanh nghiệp có thể thực hiện việc báo cáo hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức/ cá nhân nêu trên với các đơn vị quản lý mạng xã hội để yêu cầu xóa bỏ nội dung vi phạm hoặc khóa tài sản vi phạm. Bên cạnh đó, tổ chức/ cá nhân bị vi phạm cũng có thể yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền như công an, ủy ban nhân dân tiếp nhận và tiến hành xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và/hoặc vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến đối tượng quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật, với mức yêu cầu xử phạt có thể lên đến 20.000.000 đồng theo quy định tại Nghị Định 99/2013/NĐ-CP về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.

Các hành vi nêu trên đây mới chỉ là hai trong số rất rất nhiều phương thức cạnh tranh không lành mạnh xuất hiện trên thực tế, và mỗi hành vi, tùy vào đối tượng bị xâm phạm cũng như cách thức thực hiện, sẽ có thể bị xử lý theo các quy định khác nhau. Trong kinh doanh, cạnh tranh là điều không thể tránh, tuy nhiên thương nhân cần nhận biết được hành vi nào là cạnh tranh không lành mạnh để tránh, cũng như cách thức để xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhằm giảm thiểu thiệt hại của mình.

 

Read more...

Liên hệ Apolat Legal