IPO & Huy Động Vốn

Việc chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO) là một sự kiện bước ngoặc trong sự phát triển của của một công ty, cho dù đó là một công ty với lịch sử hoạt động lâu dài hay chỉ là một công ty khởi nghiệp. Với sự thấu hiểu về quy trình IPO và kinh nghiệm, cùng các mối quan hệ đối tác với các đơn vị liên quan, Apolat Legal từng bước hỗ trợ, tư vấn khách hàng hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm lựa chọn chiến lược hành động phù hợp nhất để đạt được mục tiêu IPO thành công.

Apolat Legal hỗ trợ và tư vấn hiệu quả cho khách hàng về các vấn đề liên quan đến khuôn khổ pháp lý xung quanh quá trình niêm yết cổ phiếu và thực hiện các khoản đầu tư dài hạn. Chúng tôi tư vấn pháp lý và đảm bảo khách hàng tuân thủ các quy định của pháp luật, nghị định, thông tư, hướng dẫn và quy định liên quan đến việc niêm yết trên thị trường chứng khoán và quá trình IPO nói chung; lập danh sách các điều kiện; thâu tóm công ty đại chúng; nộp hồ sơ niêm yết; hủy bỏ niêm yết và các vấn đề liên quan khác. Chúng tôi cũng hỗ trợ khách hàng trong quá trình thẩm tra; đàm phán; thực hiện giao dịch mua bán hoặc chấm dứt giao dịch.

Bảo vệ và nâng cao lợi ích hợp pháp của khách hàng luôn là mục tiêu hàng đầu tại Apolat Legal. Chúng tôi luôn làm việc chặt chẽ cùng khách hàng để hình thành một cấu trúc giao dịch phát hành cổ phiếu thành công nhất.

Liên hệ

Đinh Quang Long

Luật sư điều hành

Phạm Hồng Mạnh

Luật sư thành viên

Bài viết liên quan

Những lưu ý khi sử dụng hợp đồng mẫu

Xây dựng các hợp đồng mẫu để ký kết trong hoạt động kinh doanh không còn là điều xa lạ đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam. Tuy nhiên, với một nền kinh tế vẫn đang phát triển với các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ lệ lớn trong cộng đồng doanh nghiệp, trong đó, doanh nghiệp quy mô nhỏ và siêu nhỏ chiếm tỷ lệ rất lớn, hơn 98% trên tổng số doanh nghiệp nhỏ và vừa, đại đa số các doanh nghiệp không quan tâm nhiều về tính chất pháp lý của các hợp đồng mẫu mà họ đang sử dụng. Hợp đồng đơn giản chỉ là một “mẩu giấy” để hợp thức hóa giao dịch của các bên, để tiện kê khai thuế… Ngược lại, cũng có rất nhiều doanh nghiệp đã xây dựng cho mình một bộ hợp đồng mẫu tại đó ghi nhận các nội dung chính về các dịch vụ hay sản phẩm mà mình cung cấp, thậm chí xây dựng một bộ quy tắc chung cho việc cung cấp sản phẩm/ dịch vụ của mình. Việc sử dụng mẫu hợp đồng đã giúp các doanh nghiệp thích ứng tốt hơn với yêu cầu rút ngắn thời gian chuẩn bị để ký kết hợp đồng. Tuy nhiên, sử dụng hợp đồng mẫu mà không biết đến các điều kiện gắn liền với nó sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy bất cập cho doanh nghiệp.

Theo quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự 2015, giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

  • Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
  • Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
  • Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội;
  • đáp ứng điều kiện về hình thức nếu luật quy định.

Thông thường, mọi người chỉ chú trọng vào năng lực chủ thể và ý chí tự nguyện của đôi bên khi tham giao giao dịch. Hồn nhiên nghĩ rằng đôi bên cùng đồng ý tham gia hợp đồng, ký tên vào hợp đồng thì mặc nhiên hợp đồng đó sẽ có hiệu lực áp dụng mà quên mất rằng Bộ luật dân sự chỉ là luật chung, tùy vào từng trường hợp cụ thể mà doanh nghiệp còn phải kiểm tra thêm quy định tại các bộ luật chuyên ngành. 

Thứ nhất, doanh nghiệp nên xác định hợp đồng mẫu mà mình sử dụng có thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng hay không.

Hợp đồng có nhiều dạng, hợp đồng kinh tế, hợp đồng hợp tác… Trong quan hệ cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng thì hợp đồng do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ soạn thảo để giao dịch với người tiêu dùng cũng được xem là hợp đồng theo mẫu (khoản 5 Điều 3 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010). Trong đó, người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức, và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là bất kỳ tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Lưu ý, các hợp đồng được giao kết nhằm mục đích kinh doanh, sinh lợi của cá nhân, tổ chức không nằm trong nhóm này.

Trong mối quan hệ với bên bán hàng hóa/ cung cấp dịch vụ, người tiêu dùng được xem là bên yếu thế hơn. Do đó, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng có rất nhiều quy định bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng mà doanh nghiệp cần lưu ý, cụ thể một số vấn đề như sau:

(i) Những điều khoản của hợp đồng, điều kiện giao dịch chung với người tiêu dùng không có hiệu lực tại Điều 16 Luật Bảo vệ người tiêu dùng, trong đó có một số trường hợp doanh nghiệp hay gặp như sau:

  • Loại trừ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đối với người tiêu dùng theo quy định của pháp luật;
  • Hạn chế, loại trừ quyền khiếu nại, khởi kiện của người tiêu dùng;
  • Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đơn phương thay đổi điều kiện của hợp đồng đã thỏa thuận trước với người tiêu dùng hoặc quy tắc, quy định bán hàng, cung ứng dịch vụ áp dụng đối với người tiêu dùng khi mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ không được thể hiện cụ thể trong hợp đồng;
  • Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đơn phương xác định người tiêu dùng không thực hiện một hoặc một số nghĩa vụ;
  • Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ quy định hoặc thay đổi giá tại thời điểm giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

Rất nhiều trường hợp doanh nghiệp vướng phải những quy định cấm nêu trên và đã phải chấp nhận bị hủy hợp đồng, hoàn trả lại các khoản phí đã nhận và bồi thường cho người tiêu dùng khi xảy ra tranh chấp.

(ii) Thứ hai, về thời gian xem xét hợp đồng: Luật bảo vệ người tiêu dùng cũng quy định, khi giao kết hợp đồng theo mẫu, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải dành thời gian hợp lý để người tiêu dùng nghiên cứu hợp đồng. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải lưu giữ hợp đồng theo mẫu đã giao kết cho đến khi hợp đồng hết hiệu lực. (Điều 17 Luật bảo vệ NTD).

(iii) Về vấn đề điều kiện giao dịch chung:  Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ sử dụng điều kiện giao dịch chung có trách nhiệm thông báo công khai điều kiện giao dịch chung trước khi giao dịch với người tiêu dùng và phải được niêm yết ở nơi thuận lợi tại địa điểm giao dịch để người tiêu dùng có thể nhìn thấy.

Thứ hai, về hình thức hợp đồng.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 177 Bộ Luật dân sự, hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định. Do đó, khi sử dụng hợp đồng, doanh nghiệp cũng cần lưu ý kiểm tra kỹ loại hợp đồng mình đang sử dụng, đối chiếu với các quy định liên quan có phải tuân thủ quy định gì về hình thức không, như phải lập bằng văn bản, phải được công chứng, chứng thực, hoặc mẫu hợp đồng phải được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền…

Không thể phủ nhận lợi ích của việc sử dụng hợp đồng mẫu trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng hãy là một thương nhân thông thái và kiểm tra kỹ các vấn đề pháp lý có liên quan đến hợp đồng trước khi đặt bút ký, tránh “tiền mất tật mang”.

Read more...

“Cover” Bài Hát/Bản Nhạc dưới góc nhìn Luật Sở hữu trí tuệ

Trong bối cảnh mở cửa hội nhập, giao lưu quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, thị trường âm nhạc của Việt Nam đã trở nên sôi động với sự phát triển của hàng loạt nhạc sĩ trẻ, ca sĩ mới, công ty biểu diễn và các tổ chức biểu diễn. Việc làm mới một ca khúc đã nổi tiếng hoặc thực hiện lại (hay còn gọi là “cover”) một bài hát đang được yêu thích nhất cũng trở nên “thịnh hành”. Một bạn trẻ chỉ cần có chất giọng tốt, chọn một bài hát/ bản nhạc nổi tiếng một thời hoặc đương thời, phối mới và hát theo cách sáng tạo riêng của mình rồi đăng lên các trang dịch vụ âm nhạc, các trang mạng xã hội….., đây là một cách bước vào con đường ca hát “nhanh”. Không chỉ vậy, trước sự du nhập và yêu thích của các nền nhạc Hoa, nhạc Hàn, nhiều bản nhạc Hoa, nhạc Hàn tiếp tục được chuyển ngữ hoặc viết lời mới và trình bày lại. Trong lĩnh vực âm nhạc, nhiều người cùng biểu diễn một bài hát là điều không có gì xa lạ, việc “cover” một bản nhạc/ bát hát trong âm nhạc không phải điều xấu mà phần nào bài hát thêm lan tỏa rộng rãi trên thị trường âm nhạc. Tuy nhiên, “cover” không có nghĩa là tổ chức, cá nhân “cover” có thể làm bất cứ điều gì mình mong muốn, kể cả không nhằm mục đích thương mại, mà việc “cover” một bài hát/ bản nhạc cần phải tôn trọng bản quyền tác phẩm, tôn trọng quyền tác giả và thực hiện theo các quy định của pháp luật. 

Một bài hát/ bản nhạc được bảo hộ quyền tác giả khi nào?

Tác phẩm âm nhạc (hay một bài hát/ bản nhạc) là đối tượng đươc bảo hộ quyền tác giả. Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, tác phẩm âm nhạc là tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác hoặc được định hình trên bản ghi âm, ghi hình có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn. Quyền tác giả của tác phẩm âm nhạc phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.

Như vậy một bài hát/ bản nhạc được bảo hộ quyền tác giả ngay khi tác giả sáng tác mà không cần đăng ký quyền tác giả. Theo đó, tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả sẽ có các quyền theo quy định pháp luật: quyền nhân thân (quyền đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;  bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả …) và quyền tài sản (làm tác phẩm phái sinh; biểu diễn tác phẩm trước công chúng; sao chép tác phẩm; phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác; cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính…).

Những lưu ý khi thực hiện lại hay còn gọi là “cover” một bài hát/ bản nhạc?

Theo thực tế diễn ra trên thị trường âm nhạc hiện nay, chúng ta có thể chia việc “cover” một bài hát/ bản nhạc thành hai dạng như sau (i) “Cover” một bài hát/ bản nhạc nhưng không làm thay đổi nội dung và giai điệu của tác phẩm gốc; (ii) “Cover” bài hát/ bản nhạc nhưng có sự thay đổi cơ bản giai điệu/ lời bài hát của tác phẩm gốc hoặc chuyển ngữ hoặc viết lời mới dựa trên các nền nhạc Hoa, Hàn. 

Hình thức “cover” lại một bài hát/bản nhạc nhưng không làm thay đổi nội dung và giai điệu của tác phẩm gốc là trình bày lại tác phẩm gốc và có thể sử dụng các loại nhạc cụ thay thế khác nhau như guitar, piano….sau đó đăng tải lên các trang dịch vụ âm nhạc hoặc các trang mạng xã hội. Đây là hành vi “biểu diễn tác phẩm trước công chúng” – một độc quyền thuộc quyền tài sản của tác phẩm được pháp luật trao cho chủ sở hữu quyền tác giả. Theo đó, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện biểu diễn tác phẩm một cách trực tiếp hoặc thông qua các bản ghi âm, ghi hình hay bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được. Khi các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng quyền này phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả. Do đó, khi thực hiện “cover” và tải những bản “cover” các trang dịch vụ âm nhạc hoặc các trang mạng xã hội, tổ chức, cá nhân “cover” phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả, đồng thời phải đảm bảo không gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

Đối với hình thức “cover” một bài hát/ bản nhạc nhưng có sự thay đổi cơ bản giai điệu/ lời bài hát của tác phẩm gốc hoặc chuyển ngữ hoặc viết lời mới dựa trên các nền nhạc Hoa, Hàn.  Đây có thể được xem là thực hiện “ tác phẩm phái sinh”, một hành vi được pháp luật cho phép. Tuy nhiên, khi làm tác phẩm phái sinh, người thực hiện cần đáp ứng một số điều kiện như sau:

  • Được sự cho phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả;
  • Không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm gốc;
  • Trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả. 

Bên cạnh đó, tác phẩm cover theo hình thức này sẽ được bảo hộ quyền tác giả dưới dạng tác phẩm phái sinh của tác phẩm được cover nếu tuân thủ đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, tổ chức, cá nhân thực hiện “cover” bài hát/ bản nhạc không cần phải xin phép tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và không phải trả tiền thù lao, nhuận bút.. cho chủ sở hữu quyền tác giả trong một số trường hợp như sau: 

  • Chuyển tác phẩm sang chữ nổi, hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị;
  • Sử dụng vào mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy cá nhân, hoặc biểu diễn  trong các buổi sinh hoạt văn hóa, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào;
  • Tác phẩm gốc đã trở thành tác phẩm của công chúng (sau khi hết thời hạn bảo hộ tác phẩm là 50 năm kể từ ngày tác giả chết).

Tuy nhiên, dù thực hiện “cover”, sử dụng trong bất kỳ trường hợp nào thì tổ chức, cá nhân thực hiện cần đảm bảo không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường bài hát/ bản nhạc của chủ sở quyền tác giả; không gây hại đến quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và phải ghi đầy đủ tên tác giả, nguồn gốc, xuất xứ của bài hát/ bản nhạc. 

Âm nhạc là hoạt động nghệ thuật mang tính sáng tạo, mỗi bài hát/ bản nhạc sẽ mang phong cách riêng của nhạc sĩ, ca sĩ. Để âm nhạc Việt Nam có thể khẳng định vị thế và có những thành tựu vươn tầm trên thị trường âm nhạc thế giới, tôn trọng quyền tác giả, tôn trọng sự sáng tạo của tác giả là một trong những nhân tố quan trọng không thể thiếu. Trước khi thực hiện “cover”, sử dụng hoặc thưc hiện bất kỳ hành vi nào liên quan đến quyền tác giả nói riêng và các quyền sở hữu trí tuệ nói chung, chúng ta phải xem xét hành vi của mình có cần xin phép tác giả, có cần trả tiền nhuận bút cho chủ sở hữu quyền tác giả hoặc có vi phạm quyền sở hữu trí tuệ nào hay không. Từ đó thực hiện những hành vi hợp lý để đảm bảo tuân thủ, tôn trọng tinh thần sáng tạo của tác giả, công sức, tiền bạc của chủ sở hữu đã sáng tạo ra tác phẩm. 

Read more...

Kinh doanh thương mại điện tử tại Việt Nam: Trách nhiệm của doanh nghiệp nước ngoài đối với dữ liệu cá nhân

Hiện tại, Nghị định 52/2013/NĐ-CP quy định về hoạt động thương mại điện tử chỉ áp dụng đối với các thương nhân có quốc tịch Việt Nam hoặc đặt trụ sở tại đây. Tuy nhiên, phạm vi trên đang được kỳ vọng mở rộng theo dự thảo sửa đổi, bổ sung mới nhất của văn bản này. Cụ thể, đối tượng chịu sự điều chỉnh sẽ bao gồm luôn cả thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam.

Như vậy, bên cạnh các điều kiện về đầu tư, thành lập doanh nghiệp, các quy định liên quan đến bảo mật dữ liệu người dùng cũng là một trong những vấn đề quan trọng cần được quan tâm đúng mức ngay từ đầu.

1. Dữ liệu người dùng theo pháp luật Việt Nam 

Thông tin cá nhân theo pháp luật TMĐT bao gồm: tên; tuổi; địa chỉ nhà riêng; số điện thoại; thông tin y tế; số tài khoản; thông tin về các giao dịch thanh toán cá nhân; và những thông tin khác mà cá nhân mong muốn giữ bí mật. Tuy nhiên, định nghĩa trên không bao gồm thông tin liên hệ công việc và những thông tin mà cá nhân đã tự công bố trên các phương tiện truyền thông.

Định nghĩa trên không đề cập tới các thông tin như vân tay, khuôn mặt hoặc mống mắt, dù trong thực tế, đây cũng là các thông tin được cung cấp khá nhiều trong các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt hoặc đăng nhập vào các ứng dụng. Tuy nhiên, theo định nghĩa tại Luật An toàn thông tin thông mạng 2015, thông tin cá nhân là thông tin gắn với việc xác định danh tính của một người cụ thể. Theo đó, nếu giải thích theo cách định nghĩa này, thông tin về đặc điểm nhận dạng sinh học của một người cũng có thể được xem là thông tin cá nhân cần được bảo mật.

2. Tổng quan một số nội dung cần lưu ý

Điều đầu tiên, doanh nghiệp TMĐT phải xây dựng chính sách bảo vệ thông tin cá nhân (hay dữ liệu cá nhân) với các nội dung sau:

(i) Mục đích thu thập thông tin cá nhân cũng như phạm vi sử dụng và thời gian lưu trữ. Trừ trường hợp các bên có thỏa thuận riêng về mục đích và phạm vi, hoặc để cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ theo yêu cầu cá biệt của người dùng, hoặc theo yêu cầu của pháp luật, doanh nghiệp TMĐT không được sử dụng dữ liệu đã thu thập ngoài mục đích đã thông báo;

(ii) Những người hoặc tổ chức có thể được tiếp cận với thông tin đó;

(iii) Địa chỉ của đơn vị thu thập và quản lý thông tin, bao gồm cách thức liên lạc để người tiêu dùng có thể hỏi về hoạt động thu thập, xử lý thông tin liên quan đến cá nhân mình;

(iv) Phương thức và công cụ để người tiêu dùng tiếp cận và chỉnh sửa dữ liệu cá nhân của mình.

Chính sách trên phải được hiển thị cho người dùng trước hoặc tại thời điểm thu thập thông tin, hoặc công khai tại một vị trí dễ thấy trên website của doanh nghiệp. 

Thứ hai, khi thu thập thông tin, doanh nghiệp TMĐT phải thiết lập cơ chế để người dùng bày tỏ sự đồng ý cho phép việc này thông qua các chức năng trực tuyến trên website, thư điện tử, tin nhắn, hoặc những phương thức khác theo thỏa thuận giữa hai bên. Đồng thời, phải có một cơ chế riêng để người dùng lựa chọn việc cho phép hoặc không cho phép doanh nghiệp TMĐT sử dụng thông tin cá nhân của họ trong những trường hợp sau:

(i) Chia sẻ, tiết lộ, chuyển giao thông tin cho một bên thứ ba; hoặc

(ii) Sử dụng thông tin cá nhân để gửi quảng cáo, giới thiệu sản phẩm và các thông tin có tính thương mại khác.

Thứ ba, doanh nghiệp TMĐT phải có cơ chế tiếp nhận và giải quyết khiếu nại của người dùng liên quan đến việc thông tin cá nhân bị sử dụng sai mục đích hoặc phạm vi đã thông báo. Trong trường hợp hệ thống thông tin bị tấn công làm phát sinh nguy cơ mất thông tin của người dùng, doanh nghiệp phải thông báo cho cơ quan chức năng trong vòng 24 giờ sau khi phát hiện sự cố. Tuy nhiên, việc thông báo không phải là điều kiện để doanh nghiệp TMĐT được giải trừ trách nhiệm trong trường hợp sự cố gây thiệt hại cho người dùng khi thông tin bị mất cắp. 

Hiện tại trên thực tế, doanh nghiệp TMĐT nước ngoài chưa phải đặt máy chủ tại Việt Nam để lưu trữ thông tin cá nhân người dùng Việt Nam thu thập được. Mặc dù theo quy định, tổ chức có thu thập, khai thác, phân tích, xử lý thông tin của người dùng Việt Nam phải đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam để lưu trữ các dữ liệu. Tuy nhiên, việc áp dụng quy định này trên thực tế đang bị bỏ ngỏ và chờ hướng dẫn chi tiết từ Chính phủ Việt Nam. Theo dự thảo nghị định hướng dẫn chi tiết Luật An ninh mạng ngày 31/10/2018, doanh nghiệp TMĐT phải đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam để lưu trữ dữ liệu tại đây nếu: 

(i) Để cho người dùng của mình thực hiện các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự công cộng; vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục; các tội phạm mạng (khủng bố, tất công, gián điệp, …); phá hoại hệ thống thông tin an ninh quốc gia;

(ii) Doanh nghiệp TMĐT đó trực tiếp có hành vi chống lại hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng, hoặc vô hiệu hóa trái pháp luật làm mất tác dụng biện pháp bảo vệ an ninh mạng; hoặc

(iii) Vi phạm các quy định về xác thực thông tin người dùng, hoặc ngăn chặn chia sẻ, loại bỏ thông tin vi phạm quy định pháp luật theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Tóm lại, do các yêu cầu ngày càng khắt khe hơn của chính phủ liên quan đến quyền riêng tư dữ liệu, cùng với việc người dùng Internet Việt Nam ngày càng nhận thức rõ hơn về vấn đề này, các công ty thương mại điện tử phải có một hệ thống bảo vệ dữ liệu của người dùng minh bạch và hiệu quả để có được sự tin tưởng hoàn toàn của người dùng ngoài chất lượng của sản phẩm và dịch vụ. Bên cạnh đó, các công ty thương mại điện tử có thể muốn tham khảo ý kiến của các chuyên gia về luật bảo mật dữ liệu trước khi khởi động bất kỳ dự án nào. Điều này là do các quy định về vấn đề này đang trong quá trình thống nhất vì các quy định mới nhất và trước đây dường như bị chồng chéo và gây ra sự nhầm lẫn trong việc áp dụng.

Read more...

Bảo vệ bí mật thương mại của doanh nghiệp trong xu hướng làm việc từ xa

Trong bối cảnh bùng phát của đại dịch Covid-19, làm việc từ xa (hay làm việc tại nhà) đã trở thành phương án phổ biến được nhiều công ty lựa chọn để vừa đảm bảo an toàn cho người lao động và, mặt khác, vừa giúp hoạt động của doanh nghiệp không bị gián đoạn. Theo một khảo sát, trước khi đại dịch Covid-19 bùng phát, nhiều tổ chức trên thực tế đã áp dụng chính sách làm việc từ xa. Tuy nhiên, khi dịch bệnh bùng phát, tỷ lệ các tổ chức áp dụng chính sách làm việc từ xa đã gia tăng nhanh chóng và hiện có gần 88% tổ chức trên thế giới triển khai chính sách làm việc từ xa.

Mặc dù mô hình làm việc từ xa được thúc đẩy và trở nên “thời thượng” phần lớn nhờ vào những chính sách giãn cách xã hội mà các quốc gia áp dụng trong đại dịch, có một điều khó phủ nhận rằng đại diện đã làm thay đổi văn hóa làm việc trong nhiều lĩnh vực và làm việc từ xa có thể sẽ trở thành một mô hình làm việc “thông thường” ở nhiều tổ chức kể cả sau khi dịch bệnh đã được kiểm soát. Thực vậy, một thống kê cho thấy 60% số người được khảo sát vẫn mong muốn tiếp tục làm việc từ xa kể cả sau khi các hạn chế của đại dịch được các chính phủ dỡ bỏ. 

Làm việc từ xa đã xóa bỏ giới hạn về không gian giữa môi trường công sở và không gian cá nhân của người lao động. Vì vậy, cách thức làm việc từ xa đã đặt ra thách thức mới cho các doanh nghiệp trong việc bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ của mình khi mà công việc không còn được thực hiện tại chính văn phòng của công ty. Mặc dù sự phát triển của công nghệ từ lâu đã giúp các doanh nghiệp đạt đến mức độ số hóa đáng kể trong vận hành, tuy nhiên diễn biến quá nhanh của tình hình dịch bệnh đã khiến quá trình số hóa này phải “bức tốc” nhanh hơn mức độ mà quy trình quản trị của hầu hết doanh nghiệp có thể thích ứng kịp trong thời gian ngắn. 

Trong bối cảnh tính “bảo mật” là một trong những điều kiện bắt buộc phải duy trì để một thông tin được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh, một vài thực tiễn nêu bên dưới, điều có thể dễ dàng bắt gặp khi người lao động làm việc tại nhà, đã đặt ra nhiều rủi ro cả về mặt pháp lý và quản trị đến người sử dụng lao động, ví dụ: 

  • Công việc được thực hiện trên thiết bị cá nhân của người lao động (như điện thoại, máy tính xách tay, …) thông qua các giao thức kết nối không được bảo mật phù hợp (ví dụ dử dụng wifi công cộng). Điều này có thể khiến các tài sản trí tuệ của doanh nghiệp trở nên dễ bị xâm phạm bởi các cuộc tấn công mạng. 
  • Công việc, các cuộc họp nội bộ hoặc cuộc gọi công việc có thể được thực hiện ở các không gian chung có mặt của các bên khác như thành viên gia đình, bạn cùng phòng hay khách của người lao động. Việc thực hiện công việc vốn có thể liên quan đến tài sản trí tuệ của doanh nghiệp ở các không gian chung như vậy khiến các thông tin mật của doanh nghiệp bị đặt ở trạng thái rất dễ tiếp cận, dù là chủ động hoặc bị động, bởi các bên khác cùng sử dụng không gian chung đó.  
  • Một số chính sách về bảo vệ bí mật kinh doanh của doanh nghiệp được thực thi lỏng lẻo hơn và ít khắt khe hơn khi người lao động làm việc từ xa. Ví dụ, làm việc từ xa có thể buộc người lao động phải mang một số tài liệu từ công ty về nhà riêng để phục vụ công việc mà những tài liệu này trước đây vốn chỉ được phép truy cập trực tiếp tại văn phòng. Vấn đề này xuất phát từ thực tế rằng rất nhiều chính sách của các doanh nghiệp hiện tại vẫn được xây dựng trên ý tưởng về một gian làm việc truyền thống có bức tương ngăn cách “cứng”. 

Do đó, doanh nghiệp buộc phải có các phản ứng phù hợp để bảo vệ bí mật kinh doanh của mình trong một mô hình làm việc mới. Một số hành động mà doanh nghiệp có thể cân nhắc bao gồm:  

  • Tăng cường đào tạo cho các nhân sự đang làm việc từ xa về chính sách sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp và liên tục nhắc lại về tầm quan trọng của các chính sách này; 
  • Yêu cầu nhân sự làm việc từ xa phải làm việc trên các thiết bị do công ty cung cấp, nếu phương án này khả thi với doanh nghiệp. Trong một số trường hợp, nếu doanh nghiệp buộc phải cho phép người lao động sử dụng thiết bị cá nhân để làm việc, các thiết bị này nên được yêu cầu đáp ứng một số tiêu chuẩn nhất định, ví dụ thiết bị phải được cài đặt phần mềm chống virus và chỉ được cài đặt các phần mềm được cấp phép hợp pháp;
  • Triển khai các công cụ lưu trữ bảo mật để quản lý các thông tin của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, doanh nghiệp chỉ nên sử dụng các phần mềm mà phần mềm đó yêu cầu người lao động phải đăng nhập thông qua email do doanh nghiệp cấp hoặc yêu cầu chữ ký điện tử để truy cập các tập tin đính kèm. Việc lưu trữ các thông tin bảo mật của doanh nghiệp trên các nền tảng lưu trữ trực tuyến đáng tin cậy giúp doanh nghiệp kiểm soát được việc truy cập, điều chỉnh, tải về các thông tin một cách hiệu quả và nhanh chóng, trong khi vẫn đảm bảo được tính xuyên suốt và bảo mật của thông tin. Trong thời đại công nghệ, các tài sản trí tuệ nên được bảo mật bằng cả các biện pháp công nghệ;  
  • Trong trường hợp người lao động là những người đam mê công nghệ và sử dụng nhiều thiết bị công nghệ hỗ trợ tại nhà như trợ lý ảo thông minh (Google Home hoặc Alexa), các thiết bị trợ lý ảo này nên được tắt khi các công việc của doanh nghiệp đang được thực hiện gần đó. Lý do là vì các thiết bị này có thể đang ở chế độ thu thập thông tin và lắng nghe môi trường xung quanh;
  • Giúp cho người lao động nhận thức được rằng, mặc dù thành viên trong gia đình hoặc bạn cùng phòng của họ có thể không cố ý chiếm đoạt thông tin mật của công ty, người lao động cũng buộc phải thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ tính “bí mật” của thông tin vì đặc tính “bí mật” là một yêu cầu bắt buộc của pháp luật để thông tin đó được xem là “bí mật kinh doanh”;
  • Tất cả các chính sách sở hữu trí tuệ mới nên được phản ánh vào chính nội quy lao động, quy chế làm việc nội bộ, quy chế bảo mật, hợp đồng lao động và các tài liệu liên quan khác của doanh nghiệp để đảm bảo cơ sở pháp lý của các giải pháp đặt ra. 

Làm việc từ xa hay làm việc tại nhà, trong thời gian đại dịch, đã dần chứng minh được những lợi ích và tính khả thi khi áp dụng vào các môi trường làm việc hiện đại. Do đó, khả năng một doanh nghiệp lựa chọn chuyển sang mô hình làm việc từ xa toàn thời gian cho một vị trí công việc hoặc một mô hình kết hợp giữa làm việc tại văn phòng và làm việc tại nhà ngày càng trơ nên rõ ràng và thực tế hơn. Trong bối cảnh đó, “tường thành” bảo vệ các tài sản trí tuệ của doanh nghiệp không chỉ còn giới hạn bởi không gian văn phòng của chính họ. Tường thành đó giờ đây có thể là ở bất kì nơi nào. Vì vậy, nếu doanh nghiệp muốn gìn giữ tốt các tài sản trí tuệ do mình dày công đầu tư, doanh nghiệp cần bắt đầu định hình và củng cố cho bức tường đó ngay từ bây giờ. 

Read more...

Liên hệ Apolat Legal