Sở hữu trí tuệ

Quản lý và bảo vệ tài sản trí tuệ đã trở nên ngày càng phức tạp đối với các công ty toàn cầu, thường có các danh mục đầu tư và hoạt động IP lớn trong nhiều khu vực pháp lý với luật pháp và mức độ thực thi IP khác nhau. Những tiến bộ công nghệ nhanh chóng đã cho phép những kẻ vi phạm trở nên tinh vi hơn, và sự gia tăng của sở hữu trí tuệ như một động lực chính của sáp nhập và mua lại đã khiến các chiến lược phát triển để bảo vệ những tài sản này trở nên quan trọng hơn.

Với chuyên môn về hàng cao cấp và thời trang, hàng tiêu dùng nhanh, công nghệ, truyền thông và giải trí, sản xuất và chăm sóc sức khỏe, chúng tôi khuyên khách hàng về quản lý thương hiệu, thực thi thương hiệu, bản quyền, kiện tụng IP, bí mật thương mại, giao dịch IP, tư vấn IP. Dựa trên kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực này, chúng tôi tiếp cận quản lý IP như một vấn đề chiến lược và đã phát triển con người, quy trình và công nghệ để phục vụ khách hàng của chúng tôi.

Chúng tôi luôn mang lại những quan điểm toàn diện để giúp khách hàng quản lí tài sản được tốt bao gồm:

Quản lí tài sản danh mục đầu tư IP tổng thể

  • Chiến lược bảo vệ thương hiệu, thực thi thương hiệu, tìm kiếm và phát triển thương hiệu;
  • Quảng cáo so sánh;
  • Tư vấn về việc thiết lập, bảo vệ và tận dụng IPR không đăng ký (đăng ký bảo hộ tại Việt Nam và nước ngoài);
  • Quyền khai thác, khu vực và toàn cầu;
  • Chống hàng giả và các chương trình thực thi khác;
  • Tranh chấp IPR trên Internet: tên miền, trò chuyện mạng, liên kết, đóng khung, dán tường, xử lý lỗi, thẻ meta và chương trình từ khóa;
  • Kiểm toán IP;
  • Thẩm định IP;
  • Cấp phép, nhượng quyền thương mại và giao dịch sở hữu trí tuệ khác;
  • Chiến lược đăng ký nhãn hiệu, bằng sáng chế và thiết kế;
  • Tìm kiếm và điều tra báo cáo, phát triển toàn cầu và nộp hồ sơ chiến lược;
  • Hỗ trợ kỹ thuật và thỏa thuận chuyển giao công nghệ; thực tiễn thương mại và luật cạnh tranh không lành mạnh;
  • Hỗ trợ kỹ thuật và thỏa thuận chuyển giao công nghệ; thực tiễn thương mại và luật cạnh tranh không lành mạnh;
  • Tư vấn giá trị gia tăng về định giá, đánh giá kỹ thuật, cấp phép, thu hồi tiền bản quyền, chiến lược thuế.

Giải trí và truyền thông

  • Chứng thực và tài trợ;
  • Thỏa thuận đại diện quản lí;
  • Giấy phép bán hàng và xuất bản.

Âm nhạc và sân khấu

  • Thỏa thuận phân loại hồ sơ;
  • Thỏa thuận cam kết tài năng;
  • Thuế và tài chính.

Công nghệ viễn thông

  • Cạnh tranh và quy định;
  • Mua sắm công nghệ thông tin và quy định;
  • Hạ tầng viễn thông.

Thực thi hành chính tại Việt Nam

  • Làm việc với cơ quan có thẩm quyền để cung cấp giải pháp cho việc thực thi IP;
  • Quản lý cạnh tranh không lành mạnh / bỏ qua thành công trong các lĩnh vực sản phẩm và ngành công nghiệp khác nhau.

Biên phòng ở Việt Nam

  • Sử dụng thông tin xuất nhập khẩu;
  • Hỗ trợ khách hàng ghi nhận quyền lợi với Hải quan tại Việt Nam;
  • Liên lạc với Hải quan và cảnh báo hàng giả tại Việt Nam;
  • Hỗ trợ khách hàng xác nhận hàng bị giam giữ là hàng giả tại Việt Nam;

Khởi tố dân sự ở Việt Nam

  • Hỗ trợ điều tra trước khi xét xử;
  • Có được lệnh và biện pháp tạm thời để bảo vệ tài sản khỏi di chuyển ra khỏi khu vực tài phán;
  • Tư vấn mua sắm trên diễn đàn;
  • Phối hợp với luật sư tại các khu vực pháp lý khác nhau để theo đuổi các vụ truy tố dân sự và có được lệnh cấm đối với những người vi phạm trên phạm vi toàn cầu;
  • Các thủ tục pháp lý và điều tra kỹ lưỡng để truy tìm các nguồn vi phạm trên toàn thế giới.

Liên hệ

Phạm Thị Thoa

Luật sư thành viên

Phone: +84918950066
Email: thoa.pham@apolatlegal.com

Bài viết liên quan

[Cập nhật pháp lý] Thư cập nhật nhanh thông tin pháp lý tháng 9, 2020

1/ Bộ Công thương vừa ban hành Thông tư số 21/2020/TT-BCT ngày 09/9/2020 quy định về trình tự cấp giấy phép hoạt động điện lực 

Thông tư số 21/2020/TT-BCT quy định về trình tự, thủ tục cấp giấy phép hoạt động điện lực, thời hạn của giấy phép hoạt động điện lực trong các lĩnh vực tư vấn thiết kế công trình, phát điện, phân phối điện, bán buôn điện và bán lẻ điện. Theo Thông tư này, các trường hợp sau đây sẽ được miễn trừ giấy phép hoạt động điện lực:

  • Phát điện để tự sử dụng không bán điện cho tổ chức, cá nhân khác;
  • Phát điện có công suất lắp đặt đến 01 MW để bán điện cho tổ chức, cá nhân khác;
  • Kinh doanh điện tại vùng nông thôn, miền núi, hải đảo mua điện với công suất nhỏ hơn 50 kVA từ lưới điện phân phối để bán điện trực tiếp tới khách hàng sử dụng điện tại vùng nông thôn, miền núi, hải đảo;
  • Điều độ hệ thống điện quốc gia và điều hành giao dịch thị trường điện lực.

Đối với các trường hợp phải xin cấp giấy phép hoạt động điện lực, thời hạn tối đa trong giấy phép hoạt động điện lực được lực quy định như sau:

TT Lĩnh vực hoạt động điện lực Thời hạn của giấy phép 
1 Tư vấn chuyên ngành điện lực 05 năm
2 Phát điện
a) Nhà máy điện lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh theo danh mục được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt 20 năm
b) Nhà máy điện không thuộc danh mục nhà máy điện lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt 10 năm
3 Truyền tải điện 20 năm
4 Phân phối điện 10 năm
5 Bán buôn điện, bán lẻ điện 10 năm

Thẩm quyền cấp Giấy phép hoạt động điện lực:

  • Bộ Công Thương cấp giấy phép hoạt động điện lực đối với hoạt động truyền tải điện và hoạt động phát điện đối với nhà máy điện lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh trong danh mục được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;
  • Cục Điều tiết điện lực cấp giấy phép hoạt động điện lực đối với hoạt động phân phối điện, bán buôn điện, bán lẻ điện, tư vấn chuyên ngành điện lực và hoạt động phát điện đối với nhà máy điện có quy mô công suất từ 03 MW trở lên không thuộc trường hợp do Bộ Công thương cấp;
  • Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp hoặc uỷ quyền cho Sở Công Thương cấp giấy phép hoạt động điện lực đối với các lĩnh vực sau:
  • Hoạt động phát điện đối với nhà máy điện có quy mô công suất dưới 03 MW đặt tại địa phương
  • Hoạt động phân phối điện đến cấp điện áp 35 kV tại địa phương
  • Hoạt động bán lẻ điện đến cấp điện áp 0,4 kV tại địa phương
  • Tư vấn chuyên ngành điện lực, bao gồm (i) Tư vấn thiết kế công trình đường dây và trạm biến áp có cấp điện áp đến 35 kV, đăng ký doanh nghiệp tại địa phương; và (ii) Tư vấn giám sát thi công công trình đường dây và trạm biến áp có cấp điện áp đến 35 kV, đăng ký doanh nghiệp tại địa phương.

Thông tư số 21/2020/TT-BCT sẽ có hiệu lực kể từ ngày 26 tháng 10 năm 2020.

2/ Chính phủ thống nhất với đề xuất của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh trong bối cảnh đại dịch Covid-19

Nghị quyết số 129/NQ-NP ngày 11 tháng 09 năm 2020, Chính phủ thống nhất với đề xuất của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Văn phòng Chính phủ về việc tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh trong bối cảnh đại dịch Covid-19. Cụ thể như sau:

  • Cho phép gia hạn thời gian hoàn thành việc lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải, khí thải tự động, liên tục quy định tại Khoản 20 và Khoản 23 Điều 3 Nghị định số 40/2019/NĐ-CP đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2021.
  • Cho phép gia hạn đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2021 đối với Giấy phép xử lý chất thải nguy hại (đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp cho doanh nghiệp) thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 39 Điều 3 Nghị định số 40/2019/NĐ-CP, đồng thời không phải lập lại báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đã được phê duyệt nếu không thay đổi địa điểm, tăng quy mô công suất theo quy định tại Điều 20 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.
  • Cho phép gia hạn đến hết ngày ngày 31 tháng 12 năm 2021 đối với Giấy xác nhận đủ điều kiện bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 39 Điều 3 Nghị định số 40/2019/NĐ-CP, đồng thời không phải lập lại ĐTM đã được phê duyệt nếu không thay đổi địa điểm, tăng quy mô công suất theo quy định tại Điều 20 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.

Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện.

Tải Cập nhật pháp lý tại đây.

Read more...

[Cập nhật pháp lý] Cập nhật một số điểm mới bổ sung trong quy định về đăng ký đầu tư theo Luật Đầu tư 2020

1/ Bộ Xây dựng vừa ban hành công văn số 4308/BXD-HĐXD về việc quản lý đầu tư xây dựng dự án có bố trí căn hộ lưu trú, văn phòng kết hợp lưu trú, biệt thự nghỉ dưỡng, nhà ở thương mại liên kế 

Trong những năm vừa qua, nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường bất động sản, nhiều các loại hình bất động sản mới như căn hộ lưu trú/du lịch, văn phòng kết hợp lưu trú, biết thự nghỉ dưỡng/du lịch, nhà ở thương mại liên kế đã xuất hiện. Cùng với việc quản lý đầu tư xây dựng theo quy định pháp luật hiện hành, các hành lang pháp lý mới cũng đang được tiếp tục hoàn thiện bởi các bộ ngành để điều chỉnh các yếu tố đặc thù của các loại hình bất động sản mới này, cụ thể:

  • Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có Quyết định số 3720/QĐ-BVHTTDL ngày 28/10/2019 ban hành Quy chế quản lý, kinh doanh loại hình căn hộ du lịch và biệt thự du lịch.
  • Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có văn bản số 703/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 14/02/2020 hướng dẫn chế độ sử dụng đất và việc chứng nhận quyền sở hữu công trình không phải nhà ở.
  • Bộ Xây dựng đã có văn bản số 276/BXD-QLN ngày 20/01/2020 gửi UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc quản lý đầu tư, xây dựng, kinh doanh căn hộ du lịch, biệt thự du lịch; đề nghị thực hiện công tác quản lý đầu tư, xây dựng, cấp GCN quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo đúng quy định pháp luật hiện hành, đảm bảo phù hợp quy hoạch được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, lưu ý xem xét thận trọng việc chuyển đổi công năng, mục đích sử dụng công trình thương mại, dịch vụ thành nhà ở. Bên cạnh đó, Bộ Xây dựng cũng đã ban hành các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho từng loại hình bất động sản này. Đồng thời Bộ Xây dựng cũng đã soạn thảo để Bộ Khoa học và Công nghệ công bố các tiêu chuẩn quốc gia để đưa ra các yêu cầu chung về thiết kế cho các loại hình công trình này.

Tuy nhiên, trong quá trình đầu tư, xây dựng, vận hành các công trình bất động sản nêu trên, vẫn còn một số vấn đề còn tồn tại, chưa được giải quyết hiệu quả liên quan đến: các đồ án quy hoạch xây dựng đã xác định chức năng lưu trú nhưng chưa tính toán cụ thể về dân số; bất cập, vướng mắc trong vận hành, quản lý sử dụng tòa nhà có nhiều chủ sở hữu, chủ sử dụng, vận hành khai thác; cấp giấy tờ sở hữu, chuyển đổi công năng, mục đích sử dụng.

Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và khắc phục các vấn đề còn tồn tại, Bộ Xây dựng đề nghị UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo trong quản lý xây dụng, thực thi thủ tục hành chính các dự án bất động sản nêu trên cần lưu ý một số nội dung sau:

(i) Khi thẩm định, phê duyệt quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết xây dựng cần đảm bảo tuân thủ hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hiện hành, làm rõ quy mô về diện tích sàn xây dựng, số lượng căn, chỉ tiêu dân số.

(ii) Khi quyết định chủ trương đầu tư, cần đảm bảo tính thống nhất về mục đích đầu tư, mục đích sử dụng đất với chức năng của công trình, phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương.

(iii) Cân nhắc công tác cấp mới các thủ tục pháp lý cho phép đầu tư xây dựng (phê duyệt quy hoạch, quyết định chủ trương các dự án đầu tư).

(iv) Khi thực hiện thẩm định dự án, thiết kế xây dựng, cấp phép xây dựng, kiểm tra công tác nghiệm thu cần kiểm tra, rà soát kỹ các cơ sở pháp lý về quy hoạch xây dựng, chủ trương đầu tư, đánh giá việc tuân thủ hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đặc biệt là các tiêu chuẩn, kỹ thuật mới được ban hành. Liên hệ cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng tại địa phương để biết thêm thông tin về dân số. Thông báo kết quả thẩm định, kiểm tra công tác nghiệm thu đến cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng tại địa phương để quản lý trong quá trình triển khai dự án.

 2/ Cập nhật một số điểm mới bổ sung trong quy định về đăng ký đầu tư theo Luật Đầu tư 2020

(i) Tại Khoản 1 Điều 22 Luật Đầu Tư 2020 quy định nhà đầu tư nước ngoài không cần thực hiện thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư trong trường hợp thành lập doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo và quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo theo quy định của pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Luật hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ 2017, Doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo là doanh nghiệp nhỏ và vừa được thành lập để thực hiện ý tưởng trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới và có khả năng tăng trưởng nhanh. Theo đó, để trở thành doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo cần phải đáp ứng các điều kiện:

  • Là Doanh nghiệp nhỏ và Vừa. Theo quy định tại Điều 4 Luật hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ 2017, Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: 
    • Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng;
    • Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng.
  • Doanh nghiệp được thành lập để thể hiện ý tưởng trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới;
  • Có khả năng tăng trưởng nhanh.

Quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo: Theo quy định Khoản 2 Điều 2 Nghị định 38/2018/NĐ-CP thì Quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo là quỹ được hình thành từ vốn góp của các nhà đầu tư tư nhân để thực hiện đầu tư khởi nghiệp sáng tạo. Việc đầu tư thành lập quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo mọi người có thể tham khảo quy định tại Nghị định 38/2018/ NĐ-CP ngày 11/03/2018 quy định chi tiết về đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

(ii) Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào tổ chức kinh tế

Luật Đầu Tư 2014 quy định chung Nhà đầu tư thực hiện thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế khi góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài hoặc Việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp dẫn đến nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật này nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên của tổ chức kinh tế.

Luật Đầu Tư 2020 quy định cụ thể hơn các trường hợp Nhà Đầu Tư nước ngoài thực hiện thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế khi:

  • Việc góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp làm tăng tỷ lệ sở hữu của các NĐ NN tại tổ chức kinh tế kinh doanh ngành, nghề tiếp cận thị trường có điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài; hoặc 
  • Việc góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp dẫn đến việc nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 23 của Luật này nắm giữ trên 50% vốn điều lệ của tổ chức kinh tế trong các trường hợp: tăng tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của NĐT NN từ dưới hoặc bằng 50% lên trên 50%; tăng tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài khi nhà đầu tư nước ngoài đã sở hữu trên 50% vốn điều lệ trong tổ chức kinh tế; hoặc
  • Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại đảo và xã, phường, thị trấn biên giới; xã, phường, thị trấn ven biển; khu vực khác có ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh.  

Hiện tại Luật Đầu tư 2020 đang chờ có hiệu lực (ngày 01/01/2021), do đó, để thực hiện hồ sơ đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài cần chờ các Nghị định cung cấp hướng dẫn và biểu mẫu cụ thể.

Tải Cập nhật pháp lý tại đây.

Read more...

[Tin tức] Apolat Legal chính thức trở thành thành viên của Hiệp hội Bảo vệ Sở hữu Trí tuệ Quốc tế

Tháng 8/2020, Apolat Legal chính thức trở thành thành viên của Hiệp hội Bảo vệ Sở hữu Trí tuệ Quốc tế (AIPPI).

AIPPI là hiệp hội phi lợi nhuận hàng đầu thế giới dành riêng cho việc phát triển và cải thiện luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. AIPPI là một tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở tại Thụy Sĩ với khoảng 9000 thành viên trên toàn thế giới từ hơn 125 quốc gia.

Ở Việt Nam, nhóm đã hoạt động dưới sự bảo trợ của Hội Sở hữu trí tuệ Việt Nam trong nhiều hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ như đào tạo, tư vấn và phản biện, hợp tác trong nước và quốc tế.

Một trong những hoạt động quan trọng nhất của AIPPI tại Việt Nam là tập trung vào hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc xây dựng và phát triển tài sản sở hữu trí tuệ giúp doanh nghiệp ngày càng phát triển, đó cũng là một trong những hoạt động mà Apolat Legal hướng đến.

Read more...

[Cập nhật pháp lý] Hướng dẫn mới của Tổng cục Hải quan về thuế nhập khẩu các dự án năng lượng mặt trời

1| Hướng dẫn mới của Tổng cục Hải quan về thuế nhập khẩu các dự án năng lượng mặt trời 

Vào ngày 20/8/2020, Tổng Cục Hải quan đã ban hành Công văn số 5533/TCHQ-TXNK về thuế nhập khẩu các dự án điện mặt trời.

Qua quá trình rà soát công tác quản lý thuế nhập khẩu đối với các Dự án năng lượng tái tạo (năng lượng mặt trời), Tổng cục Hải quan đã có những ý kiến như sau:

  • Căn cứ theo Điều 16 Luật Thuế xuất khẩu, nhập khẩu, Điều 14 Nghị định 134/2016/NĐ-CP, các hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định của đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư bao gồm:

Máy móc, thiết bị; linh kiện, chi tiết, bộ phận rời, phụ tùng để lắp ráp đồng bộ hoặc sử dụng đồng bộ với máy móc, thiết bị; nguyên liệu, vật tư dùng để chế tạo máy móc, thiết bị.

Phương tiện vận tải chuyên dùng trong dây chuyền công nghệ sử dụng trực tiếp cho hoạt động sản xuất của dự án. Tiêu chí xác định thực hiện theo quy định của Bộ Khoa học và Công nghệ.

Vật tư xây dựng trong nước chưa sản xuất được. Căn cứ xác định vật tư xây dựng trong nước chưa sản xuất được thực hiện theo quy định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại Thông tư 01/2018/TT-BKHĐT; tiêu chí xác định phương tiện vận tải chuyên dùng trong dây chuyền công nghệ sử dụng trực tiếp cho hoạt động sản xuất của dự án thực hiện theo quy định của Bộ Khoa học và Công nghệ.

  • Đầu tư phát triển nhà máy điện thuộc ngành, nghề ưu đãi đầu tư theo quy định tại điểm 3 mục III phần A Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định 118/2015/NĐ-CP của Chính phủ, và sẽ được hưởng các ưu đãi theo đó.
  • Mặt hàng “Tấm pin quang điện”, “Hệ thống giá đỡ tấm pin quang điện” và “Khung giá đỡ tấm pin quang điện” thuộc hàng hóa trong nước đã sản xuất được, do đó, thuộc diện chịu thuế nhập khẩu theo Thông tư số 01/2018/TT-BKHĐT ngày 30/3/2018 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc ban hành danh mục máy móc, thiết bị, phụ tùng thay thế, phương tiện vận tải chuyên dùng, nguyên liệu, vật tư, bán thành phẩm trong nước sản xuất được và căn cứ ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại Công văn số 2119/BKHĐT-KTCN ngày 03/4/2019 và Công văn số 4456/BKHĐT-KTCN ngày 01/7/2019.

Từ các cơ sở trên, Tổng cục Hải quan yêu cầu các Cục Hải quan tỉnh, thành phố áp dụng chính sách thuế đối với hàng hóa nhập khẩu phục vụ các Dự án năng lượng tái tạo (điện mặt trời) trong quá trình thực hiện miễn thuế nhập khẩu. 

2| Cập nhật một số quan điểm thay đổi của Cục Sở hữu trí tuệ khi xử lý hồ sơ đăng ký nhãn hiệu 

Hiện tại, Cục Sở hữu trí tuệ đã có một số thay đổi đáng lưu ý khi xử lý các hồ sơ nhãn hiệu như sau:

  • Trước khi chuyển nhượng, chủ Văn bằng bảo hộ (VBBH) thay đổi tên/địa chỉ nhưng không có yêu cầu ghi nhận việc thay đổi trên VBBH.

Trước đây, khi thẩm định, Cục SHTT không yêu cầu chủ VBBH nộp yêu cầu sửa đổi tên/địa chỉ mà chỉ cần người nộp đơn nộp đầy đủ các tài liệu pháp lý chứng minh việc chủ VBBH đã thay đổi tên/địa chỉ.

Tuy nhiên, theo quyết định mới của Lãnh đạo Cục, sửa đổi VBBH là một thủ tục được quy định trong Thông tư 01/2007/TT-BKHCN. Việc không yêu cầu người nộp đơn nộp yêu cầu sửa đổi VBBH khi chủ VBBH đã thay đổi tên/địa chỉ là bước làm tắt, bỏ qua một thủ tục hành chính đã được pháp luật quy định, làm thất thoát khoản phí/lệ phí nộp cho Nhà nước. Do đó, khi chủ VBBH có sự thay đổi tên/địa chỉ thì bắt buộc phải nộp đơn yêu cầu sửa VBBH. Đơn chuyển nhượng sẽ được xử lý tiếp khi yêu cầu sửa đổi VBBH được ghi nhận.

  • Bên chuyển nhượng chuyển cho bên nhận nhiều VBBH và trong Danh sách các VBBH được chuyển nhượng thì tên/địa chỉ của chủ các VBBH này không thống nhất nhau (do qua nhiều lần thay đổi).

Theo phương thức cũ, khi thẩm định, Cục SHTT yêu cầu chủ VBBH tiến hành thủ tục sửa đổi tên/địa chỉ cho thống nhất trên các VBBH hoặc tách các VBBH có cùng tên/địa chỉ sang 1 đơn mới. Đối với trường hợp tách đơn thì đơn tách ra chỉ phải nộp phí công bố Quyết định chuyển nhượng, còn các khoản phí khác sẽ được chuyển từ đơn ban đầu sang. Trong đơn chuyển nhượng mới cần photo biên lai của đơn chuyển nhượng ban đầu để chứng minh các khoản phí/lệ phí đã nộp được chuyển sang.

Theo Quyết định mới, Cục SHTT đề nghị chủ VBBH thực hiện thủ tục sửa đổi VBBH để tên/địa chỉ trên các VBBH thống nhất, sau đó mới tiếp tục thực hiện thủ tục chuyển nhượng.

  • Trường hợp thay đổi chủ văn bằng từ Cơ sở, Hộ kinh doanh, Doanh nghiệp tư nhân sang chính cá nhân là người đại diện cho Cơ sở, Hộ kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân đó thì phải thực hiện thủ tục chuyển nhượng VBBH vì đây là hai chủ thể độc lập không thể thực hiện việc sửa đổi VBBH. Bên chuyển nhượng là Cơ sở, Hộ kinh doanh thì phải có thêm văn bản của các thành viên trong Cơ sở, Hộ kinh doanh đồng ý cho người đại diện đứng ra ký kết hợp đồng chuyển nhượng.

Tải Cập nhật pháp lý tại đây.

Read more...

Một Số Câu Hỏi Thường Gặp

Nhãn hiệu

Nhãn hiệu được định nghĩa là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.

Các dấu hiệu sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu:

  1. Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy của các nước;
  2. Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng, cờ, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép;
  3. Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệt hiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của nước ngoài;
  4. Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu đó làm nhãn hiệu chứng nhận;
  5. Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ.

Theo quy định của pháp luật SHTT, những chủ thể có quyền đăng ký nhãn hiệu bao gồm:

– Tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký nhãn hiệu dùng cho hàng hóa do mình sản xuất hoặc dịch vụ do mình cung cấp.

– Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động thương mại hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu cho sản phẩm mà mình đưa ra thị trường nhưng do người khác sản xuất với điều kiện người sản xuất không sử dụng nhãn hiệu đó cho sản phẩm và không phản đối việc đăng ký đó.

– Tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể để các thành viên của mình sử dụng theo quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể; đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ, tổ chức có quyền đăng ký là tổ chức tập thể của các tổ chức, cá nhân tiến hành sản xuất, kinh doanh tại địa phương đó; đối với địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương của Việt Nam thì việc đăng ký phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.

– Tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, nguồn gốc hoặc tiêu chí khác liên quan đến hàng hóa, dịch vụ có quyền đăng ký nhãn hiệu chứng nhận với điều kiện không tiến hành sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó; đối với địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương của Việt Nam thì việc đăng ký phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.

– Hai hoặc nhiều tổ chức, cá nhân có quyền cùng đăng ký một nhãn hiệu để trở thành đồng chủ sở hữu với những điều kiện sau đây:

a) Việc sử dụng nhãn hiệu đó phải nhân danh tất cả các đồng chủ sở hữu hoặc sử dụng cho hàng hóa, dịch vụ mà tất cả các đồng chủ sở hữu đều tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh;

b) Việc sử dụng nhãn hiệu đó không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ.

Thời gian đăng ký bảo hộ nhãn hiệu theo quy định pháp luật diễn ra như sau:

  • Thẩm định hình thức: 01 tháng từ ngày nộp đơn. Kiểm tra việc tuân thủ các quy định về hình thức đối với đơn, từ đó đưa ra kết luận đơn có được coi là hợp lệ hay không.
  • Công bố đơn: trong thời hạn 02 tháng từ ngày chấp nhận đơn hợp lệ. Sau khi có quyết định chấp nhận đơn hợp lệ, đơn sẽ được công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp.
  • Thẩm định nội dung đơn: không quá 09 tháng kể từ ngày công bố đơn. Đánh giá khả năng được bảo hộ của đối tượng nêu trong đơn theo các điều kiện bảo hộ, qua đó xác định phạm vi bảo hộ tương ứng.

Các hành vi sau đây được thực hiện mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu thì bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu:

a) Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng với hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó;

b) Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ;

c) Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng, tương tự hoặc liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ;

d) Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hóa, dịch vụ bất kỳ, kể cả hàng hóa, dịch vụ không trùng, không tương tự và không liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng.

Có. Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu bị chấm dứt hiệu lực trong các trường hợp sau:

  • Chủ của văn bằng bảo hộ không nộp lệ phí để duy trì hiệu lực hoặc gia hạn hiệu lực theo quy định. Ở đây, Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu phải nộp phí gia hạn hiệu lực sau khi kết thúc thời hạn bảo hộ.
  • Chủ văn bằng bảo hộ tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu công nghiệp.
  • Chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu không còn hoạt động kinh doanh mà không có người kế thừa hợp pháp.
  • Nhãn hiệu không được chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu cho phép sử dụng trong thời hạn năm năm liên tục trước ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực mà không có lý do chính đáng, trừ trường hợp việc sử dụng được bắt đầu hoặc bắt đầu lại trước ít nhất ba tháng tính đến ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực.
  • Chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đối với nhãn hiệu tập thể không kiểm soát hoặc việc kiểm soát không có hiệu quả đối với việc thực hiện quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể đó.
  • Chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đối với nhãn hiệu chứng nhận vi phạm quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận hoặc không kiểm soát, kiểm soát không có hiệu quả việc thực hiện quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận.

Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu bị hủy bỏ toàn bộ hiệu lực trong các trường hợp sau đây:

a) Người nộp đơn đăng ký không có quyền đăng ký và không được chuyển nhượng quyền đăng ký đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu;

b) Đối tượng sở hữu công nghiệp không đáp ứng các điều kiện bảo hộ tại thời điểm cấp văn bằng bảo hộ.

Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu bị hủy bỏ một phần hiệu lực trong trường hợp phần đó không đáp ứng điều kiện bảo hộ.

    

Theo quy định của pháp luật SHTT, nhãn hiệu được phân loại như sau:

Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó.

Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu.

Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau.

Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ và không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 74 Luật SHTT.

Trong sở hữu công nghiệp thì không thể nào tránh khỏi tình trạng nhiều đơn đăng ký bảo hộ cho đối tượng thuộc quyền sở hữu công nghiệp trùng hay có tương tự nhau cùng nộp để xin cấp văn bằng bảo hộ thì Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên ra đời để xử lý vấn đề này.

Nguyên tắc này được quy định cụ thể tại Điều 90 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009 nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của chủ thể nộp đơn sớm hơn các chủ thể khác đối với cùng một đối tượng thuộc quyền sở hữu công nghiệp. Cụ thể:

  1. Trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký các sáng chế trùng hoặc tương đương với nhau, các kiểu dáng công nghiệp trùng hoặc không khác biệt đáng kể với nhau thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho sáng chế hoặc kiểu dáng công nghiệp trong đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất trong số những đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ.
  2. Trong trường hợp có nhiều đơn của nhiều người khác nhau đăng ký các nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhau dùng cho các sản phẩm, dịch vụ trùng hoặc tương tự với nhau hoặc trường hợp có nhiều đơn của cùng một người đăng ký các nhãn hiệu trùng dùng cho các sản phẩm, dịch vụ trùng nhau thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho nhãn hiệu trong đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất trong số những đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ.
  3. Trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này cùng đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ và cùng có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho đối tượng của một đơn duy nhất trong số các đơn đó theo thỏa thuận của tất cả những người nộp đơn; nếu không thỏa thuận được thì các đối tượng tương ứng của các đơn đó bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ.

Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày cấp đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm.

Theo tinh thần của khoản 1 Điều 123 Luật SHTT sửa đổi bổ sung 2009, chủ sở hữu nhãn hiệu có các quyền sau:

  • Sử dụng, cho phép người khác sử dụng nhãn hiệu theo các quy định của pháp luật SHTT; Cụ thể:

Sử dụng nhãn hiệu là việc thực hiện các hành vi sau đây:

a) Gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh;

b) Lưu thông, chào bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ;

c) Nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ.

  • Ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu;
  • Định đoạt nhãn hiệu.

 

Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền áp dụng các biện pháp sau đây để tự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình:

a) Áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;

b) Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại;

c) Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan;

d) Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.