Thu hồi nợ

Apolat Legal được biết đến là một trong những công ty thu hồi nợ được khách hàng đánh giá cao bởi tính chuyên nghiệp, chủ động và hiệu quả công việc. Chúng tôi có thế mạnh về việc hiểu rõ thực tiễn trong trao đổi và đàm phán, các quy định pháp luật địa phương cho các vấn đề pháp lý liên quan đến thu hồi nợ để áp dụng trong bối cảnh pháp lý, kinh tế, chính trị và văn hoá đặc thù của Việt Nam. Ngoài ra, với sự tham gia của các luật sư có nhiều năm kinh nghiệm hành nghề luật và đã giải quyết nhiều vụ thu hồi nợ hiệu quả, nên đã nhận được sự tín nhiệm cao của khách hàng. 

Apolat Legal thực hiện tất cả các công việc pháp lý liên quan đến thu hồi nợ, từ khâu tiếp xúc khách hàng, tư vấn, nghiên cứu hồ sơ, gửi yêu cầu trả nợ đến giai đoạn thương lượng thanh toán và tham gia tranh tụng, thi hành án thu hồi nợ. Chúng tôi dành nhiều thời gian nghiên cứu hồ sơ, thực hiện một cách chi tiết và cẩn trọng từng gian đoạn thu hồi nợ để bảo vệ quyền lợi tốt nhất cho khách hàng. 

Ngoài ra, chúng tôi thường xuyên theo dõi và chủ động thông báo, trao đổi với khách hàng về tiến trình thực hiện của từng công đoạn, giúp khách hàng cập nhật thông tin một cách kịp thời, nhanh chóng và chính xác, phối hợp với khách hàng để đưa ra các chiến lược thu hồi nợ phù hợp với mục tiêu, mong muốn và hoạt động kinh doanh của khách hàng tại từng thời điểm cụ thể.

Liên hệ

Đinh Quang Long

Luật sư điều hành

Phạm Thị Thoa

Luật sư thành viên

Bài viết liên quan

Khung pháp lý cho hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam

Trong những năm gần đây, Việt Nam đang trở thành một trong những trung tâm khởi nghiệp sáng tạo mới nổi của khu vực. Trong bối cảnh đó, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều quy định mới nhằm tạo động lực cho sự phát triển của làn sóng khởi nghiệp tại Việt Nam. Cùng với việc Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa bắt đầu có hiệu lực năm 2018, vào cùng năm, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 38/2018/NĐ-CP về đầu tư vào doanh nghiệp nhỏ và vừa và doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Nghị định đưa ra các giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tiếp cận vốn đầu tư mạo hiểm của các doanh nghiệp khởi nghiệp. Khung pháp lý cho các quỹ đầu tư mạo hiểm theo Nghị định 38 đã tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn và mở ra các kênh vốn hiệu quả cho các công ty khởi nghiệp giai đoạn đầu tại Việt Nam.

Theo Nghị định 38, quỹ đầu tư mạo hiểm (hay Quỹ đầu tư đổi mới sáng tạo theo cách gọi của Nghị định 38) là quỹ được hình thành từ các khoản đầu tư của các nhà đầu tư tư nhân để đầu tư vào các công ty khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Quỹ được thành lập bằng các khoản đầu tư từ không quá 30 nhà đầu tư. Nhà đầu tư có thể đóng góp vào quỹ đầu tư mạo hiểm bằng tiền mặt Việt Nam đồng, vàng, quyền sử dụng đất và các tài sản khác có thể được định giá bằng tiền. Nhà đầu tư không được sử dụng tiền vay để góp vốn vào quỹ đầu tư mạo hiểm. Đặc biệt, Nghị định yêu cầu tổng vốn đầu tư vào một doanh nghiệp khởi nghiệp không được vượt quá 50% vốn điều lệ của doanh nghiệp khởi nghiệp đó sau khi nhận đầu tư.

Một vấn đề khác được nhiều nhà đầu tư quan tâm là khả năng để các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào quỹ đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam. Về vấn đề này, Nghị định 38 không có bất kỳ quy định cụ thể nào. Hiện nay, các nhà đầu tư nước ngoài tìm kiếm cơ hội đầu tư mạo hiểm vào các công ty khởi nghiệp tại Việt Nam vẫn phải tuân thủ các quy định (và hạn chế) tương tự về tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các công ty Việt Nam theo quy định của Luật đầu tư, chẳng hạn như những hạn chế theo Cam kết WTO của Việt Nam liên quan đến ngành, nghề kinh doanh không mở cửa cho nhà đầu tư nước ngoài hoặc các ngành nghề có điều kiện. Vì thiếu vắng các quy định rõ ràng, câu hỏi đặt ra là, đối với hoạt động đầu tư nước ngoài vào quỹ đầu tư mạo hiểm, các thủ tục cấp phép đầu tư và quy định quản lý ngoại hối hiện hành có được áp dụng hay không?

Các nhà đầu tư của quỹ đầu tư mạo hiểm có thể thành lập hoặc thuê một công ty để chịu trách nhiệm quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm. Công ty quản lý quỹ làm thủ tục thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm và đăng ký bổ sung ngành nghề kinh doanh về quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm theo quy định về đăng ký công ty khi thực hiện quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm.

Để bảo vệ các nhà đầu tư mạo hiểm, Nghị định 38 yêu cầu tất cả các nhà đầu tư mạo hiểm phải ký một thỏa thuận kiểm soát việc quản lý quỹ. Trừ khi Điều lệ quỹ có quy định khác, công ty quản lý quỹ phải nộp báo cáo cho Ban đại diện quỹ / Giám đốc quỹ định kỳ mỗi ba tháng. Bên cạnh đó, điều lệ của quỹ đầu tư mạo hiểm phải nêu rõ rằng mục đích của quỹ là tham gia vào hoạt động đầu tư có rủi ro cao. Để kiểm soát giao dịch giữa các bên liên quan, cần có sự chấp thuận của nhà đầu tư trong các giao dịch giữa quỹ đầu tư mạo hiểm và công ty khởi nghiệp mà người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo đó là người có liên quan với nhà đầu tư góp vốn từ 35% tổng vốn góp của quỹ hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ quỹ.

Xu hướng pháp lý hiện nay cho thấy chính phủ đang cố gắng tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cộng đồng khởi nghiệp tại Việt Nam. Mặc dù một số lĩnh vực đang nóng hiện nay như fintech, thương mại điện tử, nông nghiệp công nghệ cao sẽ cần có các quy định pháp luật cụ thể khác để phát triển nhanh chóng, sự ra đời của khung pháp lý cho hoạt động của các quỹ đầu tư mạo hiểm sẽ là bước đầu quan trọng để thúc đẩy môi trường khởi nghiệp tại Việt Nam.

Read more...

Bảo Vệ Thông Tin Người Tiêu Dùng Theo Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam

Bảo Vệ Thông Tin Người Tiêu Dùng Theo Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam

Trong thời đại kỷ nghỉ số, thông tin khách hàng trở thành vũ khí tối thượng gia tăng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. Thông qua việc thu thập, lưu trữ và phân tích kho dữ liệu khách hàng, các doanh nghiệp có thể hiểu được nhu cầu, thói quen mua sắm của khách hàng để từ đó cải thiện dịch vụ, phát triển mối quan hệ với khách hàng và nhận diện những cơ hội kinh doanh mới.

Trên thực tế, bên cạnh những doanh nghiệp sử dụng thông tin khách hàng cho mục đích cải thiện dịch vụ và chăm sóc khách hàng thì vẫn còn rất nhiều doanh nghiệp thực hiện việc bán thông tin khách hàng để trục lợi. Việc thông tin cá nhân của khách hàng bị tiết lộ trái phép, đánh cắp, trở thành vật mua bán tràn lan trên mạng tiềm ẩn nhiều nguy cơ, rủi ro cho khách hàng. Do đó, bảo vệ thông tin cá nhân nói chung và bảo vệ thông tin người tiêu dùng nói riêng trở thành một trong những vấn đề quan trọng cần được lưu tâm.

Do đó, thông qua bài viết này tác giả sẽ điểm qua những quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến việc bảo vệ thông tin người tiêu dùng. 

1. Thông tin của người tiêu dùng 

Thông tin của người tiêu dùng bao gồm thông tin về tên, tuổi, địa chỉ liên lạc, số điện thoại, số tài khoản hoặc thông tin về các giao dịch thanh toán mà doanh nghiệp thu thập được thông qua giao dịch mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho khách hàng hoặc qua các hoạt động khảo sát thị trường của doanh nghiệp. Đây được xem là thông tin cá nhân vì những thông tin này gắn với việc xác định danh tính của một khách hàng cụ thể và là nguồn dữ liệu quan trọng có giá trị thương mại mà doanh nghiệp có thể tận dụng để thực hiện hoạt động quảng bá, tiếp thị, truyền thông và các hoạt động chăm sóc khách hàng.

Nhìn chung các doanh nghiệp đều mong muốn khách hàng cung cấp càng nhiều thông tin cho mình để thuận tiện cho việc tư vấn và giới thiệu các sản phẩm phù hợp. Tuy nhiên, hầu hết các khách hàng khi chia sẻ những thông tin cá nhân đều quan ngại việc thông tin bị tiết lộ gây ảnh hưởng đến quyền riêng tư của mình. Do đó, để đảm bảo quyền riêng tư không bị xâm phạm, mỗi khách hàng đều mong muốn được biết thông tin cá nhân của mình được thu thập nhằm mục đích gì, được lưu trữ và sử dụng như thế nào. 

2. Quy định về bảo vệ thông tin của người tiêu dùng

Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có một quy định chung về bảo vệ thông tin cá nhân như nhiều quốc gia trên thế giới mà các quy định về vấn đề này nằm rải rác tại nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành. Cụ thể, việc bảo vệ thông tin của người tiêu dùng được quy định tại Điều 6 Luật Bảo Vệ Quyền Lợi Người Tiêu Dùng 2010. Quy định này ghi nhận việc người tiêu dùng được đảm bảo an toàn, bí mật thông tin của mình khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp cần tiết lộ thông tin theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Trong trường hợp các tổ chức, cá nhân kinh doanh thu thập, sử dụng, chuyển giao thông tin của người tiêu dùng thì phải đảm bảo trách nhiệm: (a) Thông báo rõ ràng, công khai trước khi thực hiện với người tiêu dùng về mục đích hoạt động thu thập, sử dụng thông tin của người tiêu dùng; (b) Sử dụng thông tin phù hợp với mục đích đã thông báo với người tiêu dùng và phải được người tiêu dùng đồng ý; (c) Bảo đảm an toàn, chính xác, đầy đủ khi thu thập, sử dụng, chuyển giao thông tin của người tiêu dùng; (d) Tự mình hoặc có biện pháp để người tiêu dùng cập nhật, điều chỉnh thông tin khi phát hiện thấy thông tin đó không chính xác; (đ) Chỉ được chuyển giao thông tin của người tiêu dùng cho bên thứ ba khi có sự đồng ý của người tiêu dùng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trong lĩnh vực tín dụng, ngân hàng, trách nhiệm đảm bảo bí mật thông tin và không được cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi và các giao dịch của khách hàng cũng được quy định tại Điều 14 Luật Các Tổ Chức Tín Dụng 2010. 

Đối với lĩnh vực thương mại điện tử, Nghị định 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử đã đưa ra nhiều quy định quan trọng về việc bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng tại chương 5 – an toàn, an ninh trong giao dịch thương mại điện tử. Nghị định này cũng góp phần đưa ra một định nghĩa khá hoàn chỉnh cho thuật ngữ “thông tin cá nhân” và lần đầu tiên cụm từ “chủ thể thông tin” tương đồng với thuật ngữ “information subject” (hoặc data subject) mà pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân ở nhiều quốc gia xác định được chính thức sử dụng tại nghị định này.

Các quy định về bảo vệ an toàn thông tin cá nhân được tiếp tục hoàn thiện hơn khi Luật An Toàn Thông Tin Mạng ra đời vào năm 2015. Theo đó, bên cạnh góp phần củng cố Nghị định 52/2013/NĐ-CP khi đưa ra định nghĩa cho khái niệm “chủ thể thông tin”, Luật An Toàn Thông Tin Mạng còn đưa ra các nguyên tắc bảo vệ thông tin cá nhân trên mạng (Điều 16), quy định việc thu thập, sử dung, cập nhật, sửa đổi và hủy bỏ thông tin cá nhân (Điều 17 và Điều 18), đưa ra các yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin cá nhân trên môi trường mạng (Điều 19) và đề ra các trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong việc bảo vệ thông tin cá nhân trên mạng (Điều 20). 

Ngoài ra, vấn đề về bảo vệ thông tin cá nhân và quyền riêng tư cũng được ghi nhận tại Bộ Luật Dân Sự 2015. Theo đó, Điều 38 Bộ Luật Dân Sự 2015 có quy định “đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ” và việc thực hiện thu thập, lưu giữ, sử dụng hay công khai những thông tin này cần phải được sự đồng ý của chủ thể thông tin và gia đình của họ. 

Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam cũng đã ban hành một số quy định chế tài đối với các hành vi vi phạm về bảo mật thông tin cá nhân nói chung và thông tin của người tiêu dùng nói riêng. Theo đó, tại Điều 84 Nghị định 15/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử có quy định mức xử phạt vi phạm hành chính tối đa đối với hành vi vi phạm quy định về thu thập, sử dụng thông tin cá nhân là 30.000.000 VNĐ kèm theo biện pháp khắc phục – buộc hủy bỏ thông tin cá nhân có được từ việc thực hiện hành vi vi phạm. Nghị định 98/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng quy định việc xử phạt đối với các hành vi vi phạm về bảo vệ thông tin cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử (Điều 65) và xử phạt các vi phạm về bảo vệ thông tin của người tiêu dùng (Điều 46). 

Ngoài các biện pháp xử lý hành chính, các cá nhân, tổ chức có hành vi xâm hại dữ liệu cá nhân còn có thể bị xử lý hình sự về “Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác (Điều 159 Bộ Luật Hình Sự 2015)” hoặc “Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông (Điều 288 Bộ Luật Hình Sự 2015)”.  

3. Thực trạng bảo vệ thông tin của người tiêu dùng tại Việt Nam

Tình trạng mua bán thông tin khách hàng tại Việt Nam đang rơi vào diện đáng báo động khi các bài viết rao bán dữ liệu khách hàng xuất hiện tran lan trên các trang mạng. Chỉ cần gõ từ khóa “mua dữ liệu khách hàng” vào google thì chưa đến một giây sẽ nhận lại được hàng ngàn thông tin rao bán với mức giá từ vài chục đến vài tram nghìn đồng (https://danhsachkhachhang.com, https://danhsachmoi.com, https://fulldata.org,…). Dữ liệu khách hàng được rao bán dưới nhiều gói dịch vụ như danh sách khách hàng facebook; danh sách khách hàng cá nhân bảo hiểm, ngân hàng; danh sách khách hàng sử dụng mobifone;….và việc mua bán được thực hiện dưới hai hình thức chính:

Một là, các doanh nghiệp chủ động thu thập, lưu trữ thông tin khách hàng để tạo thành kho dữ liệu và tiến hành phân tích và xử lý những thông tin này để tiến hành kinh doanh.

Hai là, các doanh nghiệp thực hiện thu thập dữ liệu cá nhân của khách hàng, cho phép các đối tác của mình tiếp cận các thông tin này nhưng lại không có quy định chặt chẽ về việc không được chuyển giao thông tin để đối tác thực hiện việc chuyển giao, buôn bán cho đối tác khác. 

Như vậy, có thể thấy mặc dù pháp luật Việt Nam đã có những quy định về việc bảo vệ thông tin cá nhân nhưng dường như các quy định này vẫn chưa thực sự hiệu quả và các chế tài xử phạt vẫn chưa đủ mạnh để có thể giải quyết được thực trạng đáng lo ngại này. 

Read more...

Bồi thường thiệt hại trong vụ kiện xâm phạm quyền tác giả theo quy định của pháp luật Việt Nam

Công nhận và bảo hộ quyền tác giả là một trong những chính sách nhằm khuyến khích hoạt động sáng tạo, tạo động lực thúc đẩy sự đổi mới để phát triển các tài sản sở hữu trí tuệ. Xâm phạm quyền tác giả là một trong những hành vi xâm phạm trực tiếp đến tài sản vô hình, một loại tài sản không những quan trọng về mặt vật chất mà còn có ý nghĩa rất lớn về mặt tinh thần đối với tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Biện pháp bồi thường thiệt hại là một trong những biện pháp dân sự cần thiết để bảo vệ quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.

Việc xác định mức bồi thường thiệt hai do hành vi xâm phạm quyền tác giả cũng tương tự các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung. Theo đó, thiệt hại do hành vi xâm phâm quyền tác giả sẽ bao gồm (i) thiệt hại về vật chất; (ii) thiệt hại về tinh thần và (iii) chi phí hợp lý để thuê luật sư.

Thiệt hại về vật chất

Đây là thiệt hại về tài sản; mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận; tổn thất về cơ hội kinh doanh; chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại. Thiệt hại về vật chất phải là sự tổn thất thực tế. Nguyên đơn có nghĩa vụ chứng minh “các tổn thất thực tế” do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra, chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi xâm phạm và thiệt hại. Cụ thể,  thiệt hại về vật chất phải được xác định theo ba (03) căn cứ như sau:[1]

  • Tổng thiệt hại vật chất tính bằng tiền cộng với khoản lợi nhuận mà bị đơn đã thu được do thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nếu khoản lợi nhuận bị giảm sút của nguyên đơn chưa được tính vào tổng thiệt hại vật chất;
  • Giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ với giả định bị đơn được nguyên đơn chuyển giao quyền sử dụng đối tượng đó theo hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ trong phạm vi tương ứng với hành vi xâm phạm đã thực hiện;
  • Thiệt hại vật chất theo các cách tính khác do chủ thể quyền sở hữu trí tuệ đưa ra phù hợp với quy định của pháp luật

Luật SHTT hiện hành đã quy định khá cụ thể và mở trong việc xác định thiệt hại thực tế làm căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, trong hầu hết các vụ kiện trên thực tế, nguyên đơn chỉ dừng lại ở việc yêu cầu mức bồi thường bằng một con số cụ thể mà không yêu cầu cụ thể áp dụng phương pháp nào để tính thiệt hại. Ngoài ra, do tính chất đặc thù của tài sản sở hữu trí tuệ, việc chứng minh thiệt hại làm cơ sở yêu cầu bồi thường không dễ dàng. Trong nhiều trường hợp nguyên đơn không chứng minh được thiệt hại hoặc xác định không đầy đủ về những thiệt hại đã xảy ra trong thực tế. Đối với những trường hợp này, mức bồi thường sẽ do Tòa án ấn định, tùy thuộc vào mức độ thiệt hại.[2]

Thiệt hại về tinh thần phát sinh do quyền nhân thân của tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, người biểu diễn bị xâm phạm, tác giả bị tổn hại về danh dự, nhân phẩm, bị giảm sút hoặc mất đi sự uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác về tinh thần gây ra cho tác giả.Thiệt hại về tinh thần do Tòa án quyết định dựa trên mức độ tổn thất về tinh thần của chủ thể quyền do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra. Mức bồi thường được ấn định trong giới hạn từ 5 (năm) triệu đồng đến 50 (năm mươi) triệu đồng.[3]

Chi phí hợp lý để thuê luật sư là chi phí thực tế cần thiết, phù hợp với tính chất, mức độ phức tạp của vụ việc; kỹ năng, trình độ của luật sư và lượng thời gian cần thiết để nghiên cứu vụ việc. Mức chi phí bao gồm mức thù lao luật sư và chi phí đi lại, lưu trú cho luật sư. Mức thù lao do luật sư thoả thuận với khách hàng trong hợp đồng dịch vụ pháp lý dựa trên các căn cứ và phương thức tính thù lao quy định tại Luật Luật sư. Phí luật sư là một trong những điểm đặc biệt của bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực SHTT. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng thường phức tạp bởi tính chất vô hình của loại tài sản, đồng thời khó khăn trong việc chứng minh, đánh giá hành vi xâm phạm và căn cứ xác định thiệt hải để bồi thường. Do đó, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả cần yêu cầu luật sư hỗ trợ để bảo vệ tốt quyền lợi của họ là điều hoàn toàn hợp lý. Đồng thời, việc xem xét chi phí luật sư là một loại thiệt hại cũng hoàn toàn phù hợp, bởi lẽ do hành vi vi phạm xảy ra, bên bị vi phạm cần thiết thuê luật sư bảo vệ quyền lợi ích của mình. Nếu không có hành vi xâm phạm quyền tác giả, bên có quyền có thể khai thác các quyền sở hữu trí tuệ của mình một cách bình thường và sẽ không yêu cầu luật sư để xử lý hành vi vi phạm.

Mặc dù pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành quy định khá cụ thể việc áp dụng biện pháp bồi thường thiệt hại, việc áp dụng biện pháp này thường gặp rất nhiều khó khăn trong việc chứng minh có thiệt hại và mối quan hệ giữa thiệt hại và hành vi xâm phạm. Bên cạnh đó, trong quá trình xét xử, Tòa án cũng có nhiều quan điểm khác nhau đối việc xác định các căn cứ tính mức bồi thường thiệt hại. Theo quan điểm của chúng tôi, các cơ quan có thẩm quyền cần mở đường cho việc nâng cao năng lúc xét xử về tranh chấp sở hữu trí tuệ của tòa án Việt Nam, nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập hiện nay.

[1] Khoản 1 Điều 205 Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung 2009

[2] Điểm c  Khoản 1 Điều 205 Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung 2009

[3] Mục B.2.2 Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP

Read more...

Xử lý tin xấu trên mạng xã hội

Tự do ngôn luận là quyền cơ bản của công dân được quy định tại Hiến Pháp 2013. Tự do ngôn luận cần phải đảm bảo trong khuôn phép của pháp luật và không được xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân khác, đến đạo đức, trật tự xã hội và lợi ích của quốc gia. Việc phát triển mạnh mẽ của internet và mạng xã hội đã góp phần tạo điều kiện để quyền tự do ngôn luận được thực hiện, nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều vấn nạn xuất phát từ việc lạm dụng quyền tự do ngôn luận để tạo ra thông tin xấu. Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ đề cập đến cách xử lý khi gặp phải vấn đề thông tin xấu trên mạng xã hội.

1. Thế nào là thông tin xấu

Về bản chất, thông tin xấu là những thông tin không có thật, bịa đặt, xuyên tạc, kích động bạo lực; thông tin có nội dung không phù hợp về chuẩn mực đạo đức, pháp luật, văn hóa, thuần phong mỹ tục, được tung lên mạng xã hội nhằm định hướng dư luận.

Về mặt pháp lý, theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định 72/2013/ND-CP thông tin xấu là những thông tin được lan truyển nhằm mục đích:

  1. Chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; tuyên truyền chiến tranh, khủng bố; gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo;
  2. Tuyên truyền, kích động bạo lực, dâm ô, đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc;
  3. Tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại và những bí mật khác do pháp Luật quy định;
  4. Đưa thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân;
  5. Quảng cáo, tuyên truyền, mua bán hàng hóa, dịch vụ bị cấm; truyền bá tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm bị cấm;
  6. Giả mạo tổ chức, cá nhân và phát tán thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

2. Xử lý thông tin xấu trên mạng xã hội

Hiện nay, pháp luật Việt Nam đã có quy định chế tài nhằm xử lý đối với việc tung thông tin xấu lên mạng xã hội, cụ thể như:

Hành vi lợi dụng mạng xã hội để cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính đến 20.000.000 VNĐ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 101 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP.

Việc loan truyền các thông tin sai sự thật nhằm thu lợi bất chính, gây thiệt hại hoặc gây dư luận xấu làm giảm uy tín của cơ quan, cá nhân, tổ chức khác có thể bị xử lý hình sự về tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông theo quy định tại Điều 288 Bộ Luật Hình Sự 2015.

Ngoài ra việc tung thông tin xấu lên mạng xã hội nhằm mục đích xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác còn có thể bị xử phạt hình sự về tội vu không theo điều 156 BLHS 2015 và cá nhân bị ảnh hưởng bởi những thông tin xấu này có thể yêu cầu người tung tin bồi thường thiệt hại.

Như vậy, khi gặp phải những thông tin xấu lan truyền trên mạng xã hội gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì cá nhân bị ảnh hưởng bởi những thông tin xấu có thể tự bảo vệ mình theo các cách sau:

– Báo cáo các bài viết, tài khoản mã xã hội có chứa thông tin xấu;

– Gửi đơn tố cáo về hành vi vi phạm đến cơ quan công an có thẩm quyền để yêu xầu xử lý.

Read more...

    Liên hệ Apolat Legal