Có phải đóng thuế thu nhập cá nhân cho người lao động nước ngoài thuê lại không?

Để phục vụ cho nhu cầu chuyên môn – kỹ thuật, các công ty Việt Nam thường có nhu cầu sử dụng các chuyên gia từ nước ngoài. Tuy nhiên, đối với trường hợp nhu cầu sử dụng ngắn hạn, các công ty Việt Nam sẽ không ký hợp đồng lao động với người nước ngoài mà sẽ ký hợp đồng dịch vụ thuê lại lao động với công ty nước ngoài, sau đó công ty nước ngoài sẽ cử người lao động đến làm việc tại Việt Nam. Vậy khi phát sinh thu nhập từ công việc tại Việt Nam, người lao động nước ngoài đó có phải nộp thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam hay không? 

1. Xác định tình trạng cư trú của người lao động nước ngoài

Đối với người lao động nước ngoài, pháp luật Việt Nam xác định nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân (“thuế TNCN”) dựa vào yếu tố người lao động đó là cá nhân cư trú hay cá nhân không cư trú. Vì vậy bước đầu tiên, doanh nghiệp cần xác định người lao động nước ngoài đó là cá nhân cư trú hay không cư trú, từ đó để xác định nghĩa vụ nộp thuế TNCN.  

Căn cứ vào Điều 2.2 Nghị định 65/2013/NĐ-CP, cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau: 

  • Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam;
  • Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo một trong hai trường hợp sau: (i) Có nơi ở đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú; hoặc (ii) Có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế. 

Cá nhân không cư trú là người lao động không đáp ứng điều kiện trên (Điều 2.3 Nghị định 65/2013/NĐ-CP). 

2. Nghĩa vụ nộp thuế TNCN đối với người lao động nước ngoài thuê lại

2.1 Đối với những người lao động nước ngoài thuộc nhóm cá nhân cư trú  

Căn cứ Điều 1 Thông tư 111/2013/TT-BTC, sửa đổi bởi Điều 2 Thông tư 119/2014/TT-BTC, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi trả thu nhập. Vì vậy người lao động nước ngoài sẽ nộp thuế TNCN tại Việt Nam, dù người lao động này được công ty nước ngoài trả tiền lương.  

Lưu ý, trong trường hợp người lao động đó là cư dân của một quốc gia đã có ký kết hiệp định tránh đánh thuế hai lần với Việt Nam thì phải ưu tiên áp dụng quy định tại hiệp định để xác định nghĩa vụ nộp thuế TNCN. Theo Điều 31.1 Thông tư 205/2013/TT-BTC hướng dẫn thực hiện các hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và các quốc gia, một cá nhân là đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam có thu nhập từ hoạt động làm công tại Việt Nam sẽ phải nộp thuế thu nhập đối với khoản thu nhập làm công đó tại Việt Nam theo các quy định hiện hành về thuế thu nhập cá nhân của Việt Nam.  

2.2 Đối với những người lao động nước ngoài thuộc nhóm cá nhân không cư trú  

Căn cứ Điều 1 Thông tư 111/2013/TT-BTC, sửa đổi bởi Điều 2 Thông tư 119/2014/TT-BTC, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh tại Việt Nam, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập. Vì vậy người lao động nước ngoài sẽ nộp thuế TNCN tại Việt Nam vì thu nhập của họ phát sinh từ công việc làm thuê tại Việt Nam.  

Lưu ý, trong trường hợp người lao động đó là cư dân của một quốc gia đã có ký kết hiệp định tránh đánh thuế hai lần với Việt Nam thì phải ưu tiên áp dụng quy định tại hiệp định để xác định nghĩa vụ nộp thuế TNCN.  

Theo quy định pháp luật Việt Nam thì người lao động nước ngoài vẫn phải đóng thuế tại Việt Nam, tuy nhiên trong một số hiệp định giữa Việt Nam với các quốc gia, vẫn có những trường hợp cá nhân không cư trú được miễn đóng thuế TNCN tại Việt Nam. Theo Điều 31.2 Thông tư 205/2013/TT-BTC hướng dẫn thực hiện các hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và các quốc gia, tiền công thu được từ công việc thực hiện tại Việt Nam sẽ được miễn thuế thu nhập tại Việt Nam nếu:  

  • Cá nhân đó có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong giai đoạn 12 tháng bắt đầu hoặc kết thúc trong năm tính thuế; và 
  • Chủ lao động không phải là đối tượng cư trú của Việt Nam bất kể tiền công đó được trả trực tiếp bởi chủ lao động hoặc thông qua một đối tượng đại diện cho chủ lao động; và 
  • Tiền công đó không do một cơ sở thường trú mà chủ lao động có tại Việt Nam chịu và phải trả. 

 


Khuyến cáo:

Bài viết này chỉ nhằm mục đích cung cấp các thông tin chung và không nhằm cung cấp bất kỳ ý kiến tư vấn pháp lý cho bất kỳ trường hợp cụ thể nào. Các quy định pháp luật được dẫn chiếu trong nội dung bài viết có hiệu lực vào thời điểm đăng tải bài viết nhưng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đọc. Do đó, chúng tôi khuyến nghị bạn luôn tham khảo ý kiến của chuyên gia trước khi áp dụng.

Các vấn đề liên quan đến nội dung hoặc quyền sở hữu trí tuệ của bài viết, vui lòng gửi email đến cs@apolatlegal.vn.

Apolat Legal là một công ty luật tại Việt Nam có kinh nghiệm và năng lực cung cấp các dịch vụ tư vấn liên quan đến Lao động. Vui lòng tham khảo về dịch vụ của chúng tôi tại đây và liên hệ với đội ngũ luật sư tại Viêt Nam của chúng tôi thông qua email info@apolatlegal.com.

Chia sẻ: share facebook share twitter share linkedin share instagram

Tìm hiểu cách chúng tôi có thể giúp doanh nghiệp của bạn

Khách hàng của chúng tôi

Liên hệ tư vấn

    Send Contact
    Call Us
    Zalo
    This site is registered on wpml.org as a development site.