Các trường hợp phán quyết của trọng tài nước ngoài không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, các tranh chấp giao dịch đang có xu thế được giải quyết bằng trọng tài nước ngoài dù đối tượng tranh chấp tại Việt Nam. Các doanh nghiệp cần lưu ý sau khi có phán quyết của trọng tài nước ngoài, phán quyết trọng tài đó sẽ không mặc nhiên được thi hành tại Việt Nam. Tòa án Việt Nam sẽ phải xem xét các điều kiện công nhận đối với một phán quyết trọng tài nước ngoài. Bài viết này sẽ phân tích các trường hợp phán quyết của trọng tài nước ngoài không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.  

Phán quyết của trọng tài nước ngoài không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
Phán quyết của trọng tài nước ngoài không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam

1. Các trường hợp phán quyết trọng tài nước ngoài vi phạm về nội dung hoặc hình thức (Khoản 1 Điều 459 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015)

  • Các bên ký kết thỏa thuận trọng tài không có năng lực để ký kết thỏa thuận đó theo pháp luật được áp dụng cho mỗi bên; 
  • Thỏa thuận trọng tài không có giá trị pháp lý theo pháp luật của nước mà các bên đã chọn để áp dụng hoặc theo pháp luật của nước nơi phán quyết đã được tuyên, nếu các bên không chọn pháp luật áp dụng cho thỏa thuận đó;  
  • Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thi hành không được thông báo kịp thời và hợp thức về việc chỉ định trọng tài viên, về thủ tục giải quyết vụ tranh chấp tại trọng tài nước ngoài hoặc vì nguyên nhân chính đáng khác mà không thể thực hiện được quyền tố tụng của mình; 
  • Phán quyết trọng tài nước ngoài được tuyên về một vụ tranh chấp không được các bên yêu cầu giải quyết hoặc vượt quá yêu cầu của các bên ký kết thỏa thuận trọng tài. Trường hợp có thể tách được phần quyết định về vấn đề đã được yêu cầu tại trọng tài nước ngoài thì phần quyết định về vấn đề được yêu cầu giải quyết có thể được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; 
  • Thành phần của trọng tài nước ngoài, thủ tục giải quyết tranh chấp của trọng tài nước ngoài không phù hợp với thỏa thuận trọng tài hoặc với pháp luật của nước nơi phán quyết của trọng tài nước ngoài đã được tuyên, nếu thỏa thuận trọng tài không quy định về các vấn đề đó;  
  • Phán quyết của Trọng tài nước ngoài chưa có hiệu lực bắt buộc đối với các bên; 
  • Phán quyết của Trọng tài nước ngoài bị cơ quan có thẩm quyền của nước nơi phán quyết đã được tuyên hoặc của nước có pháp luật đã được áp dụng hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành. 

2. Các trường hợp yêu cầu công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài bị đình chỉ (Khoản 3 Điều 457 và Khoản 3 Điều 458 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015)

  • Người được thi hành rút đơn yêu cầu hoặc người phải thi hành đã tự nguyện thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài; 
  • Người phải thi hành là cá nhân chết mà quyền, nghĩa vụ của người đó không được thừa kế; 
  • Người phải thi hành là cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó đã được giải quyết theo quy định của pháp luật Việt Nam; 
  • Người phải thi hành là cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó;  
  • Tòa án không xác định được địa điểm nơi có tài sản tại Việt Nam của người phải thi hành theo yêu cầu của người được thi hành phán quyết trọng tài; 
  • Người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên họp xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành. 

3. Các trường hợp khác 

3.1 Theo pháp luật Việt Nam, vụ việc tranh chấp không được giải quyết theo thể thức trọng tài:  

  • Tranh chấp không thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài (điểm a Khoản 2 Điều 459 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010): nếu phán quyết trọng tài nước ngoài quyết định về một vấn đề khác với các vấn đề được liệt kê bên dưới thì phán quyết đó sẽ không được công nhận tại Việt Nam: 
    • Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; 
    • Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại;  
    • Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật Việt Nam quy định được giải quyết bằng Trọng tài.  
  • Tranh chấp thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam nên không được phép giải quyết bằng hình thức trọng tài (Khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015):  
    • Tranh chấp liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam;
    • Tranh chấp mà các bên đã có thỏa thuận lựa chọn Tòa án Việt Nam (với điều kiện tranh chấp được phép lựa chọn Tòa án Việt Nam để giải quyết theo pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên).

3.2 Việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết trọng tài nước ngoài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật của Việt Nam (điểm b Khoản 2 Điều 459 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015). 

 


Khuyến cáo:

Bài viết này chỉ nhằm mục đích cung cấp các thông tin chung và không nhằm cung cấp bất kỳ ý kiến tư vấn pháp lý cho bất kỳ trường hợp cụ thể nào. Các quy định pháp luật được dẫn chiếu trong nội dung bài viết có hiệu lực vào thời điểm đăng tải bài viết nhưng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đọc. Do đó, chúng tôi khuyến nghị bạn luôn tham khảo ý kiến của chuyên gia trước khi áp dụng.

Các vấn đề liên quan đến nội dung hoặc quyền sở hữu trí tuệ của bài viết, vui lòng gửi email đến cs@apolatlegal.vn.

Apolat Legal là một công ty luật tại Việt Nam có kinh nghiệm và năng lực cung cấp các dịch vụ tư vấn liên quan đến Giải quyết tranh chấp. Vui lòng tham khảo về dịch vụ của chúng tôi tại đây và liên hệ với đội ngũ luật sư tại Viêt Nam của chúng tôi thông qua email info@apolatlegal.com.

Chia sẻ: share facebook share twitter share linkedin share instagram

Tìm hiểu cách chúng tôi có thể giúp doanh nghiệp của bạn

Khách hàng của chúng tôi

Liên hệ tư vấn

    Send Contact
    Call Us
    Zalo
    This site is registered on wpml.org as a development site.