Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần

Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần

Công Ty Cổ Phần là một loại hình công ty phổ biến với ưu thế vượt trội về khả năng huy động vốn lớn, nhanh chóng, khả năng chuyển nhượng vốn linh hoạt. Với quy mô kinh doanh lớn, đa ngành nghề tại Việt Nam, loại hình Công Ty Cổ Phần ngày càng thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư. Là một pháp nhân đối vốn, Công Ty Cổ Phần là sự kết hợp giữa những người có vốn và những người có khả năng kinh doanh, các cổ đông chưa chắc là người trực tiếp kinh doanh, quản lý công ty nên trường hợp người quản lý công ty, cổ đông lớn lợi dụng khả năng, chức vụ của mình để làm lợi riêng, gây nguy hại đến công ty là có thể xảy ra. Để đảm bảo sự phát triển bền vững của công ty cổ phần cũng như thúc đẩy nhà đầu tư góp vốn vào công ty cổ phần, bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần là một vấn đề cấp thiết cần được pháp luật thiết lập. Đồng thời, trong các cơ chế chung về quản trị công ty, việc đảm bảo đối xử bình đẳng với mọi cổ đông, kể cả cổ động thiểu số và cổ đông nước ngoài là một thông lệ tốt. Nguyên tắc “đối xử công bằng giữa các cổ đông” này cũng được xây dựng trong Bộ nguyên tắc quản trị công ty của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế – OECD.

Nhóm quyền tài sản

Nhóm quyền tài sản bao gồm quyền nhận cổ tức, quyền tự do chuyển nhượng cổ phần, quyền nhận một phần tài sản khi công ty giải thể. Nhóm quyền tài sản là một nhóm quyền tất yếu của cổ đông khi đã góp vốn vào công ty, do đó, theo quy định pháp luật, các cổ đông thiểu số cũng như các cổ đông khác đều có nhóm quyền tài sản như nhau. 

Trên thực tế, quyền tài sản của cổ đông thiểu số rất dễ bị xâm phạm khi sự hiểu biết về quy định pháp luật của cổ đông thiểu số còn hạn hẹp và sự thiếu đoàn kết của nhóm cổ đông thiểu số. Một ví dụ về việc quyền tài sản của cổ đông thiểu số bị xâm phạm là quyền ưu tiên mua cổ phần mới chào bán, theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 115 và Khoản 1 Điều 124 Luật Doanh Nghiệp 2020, các cổ đông được quyền ưu tiên mua cổ phần mới tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phần phổ thông của từng cổ đông trong công ty. 

Tuy nhiên, Luật Doanh Nghiệp lại không quy định giá và điều kiện bán cổ phần cho các cổ đông hiện hữu là như nhau, đây là một kẻ hở để các cổ đông lớn, cổ đông nắm giữ nhiều cổ phần dễ dàng hợp tác với nhau. 

Nhóm quyền quản trị công ty: quyền đề cử thành viên Hội đồng quản trị và Ban Kiểm Soát 

Theo quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều 115 Luật Doanh Nghiệp 2020, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty có quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát. Đây là quyền chung của cổ đông thiểu số và các cổ đông khác, tuy nhiên, đối với nhóm cổ đông thiểu số, đây là nhóm quyền có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để nâng cao quyền lực của cổ đông. Với quy định này, các cổ đông thiểu số khi tập hợp từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên sẽ có quyền ứng cử người vào Hội Đồng Quản Trị, Ban Kiểm Soát và có thể nắm được thông tin nội dung cuộc họp Đại hội đồng cổ đông (Đại hội đồng cổ đông thường thông qua những nội dung mà Hội Đồng Quản Trị đã chuẩn bị sẵn), tham gia quyết định, ý kiến một số vấn đề quan trọng của công ty. Cùng với thông lệ chung về bảo vệ cổ đông thiểu số, Luật Doanh Nghiệp 2020 đã bỏ quy định về thời hạn sở hữu cổ phần liên tục ít nhất sáu (06) tháng khi cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% cổ phần phổ thông trở lên đối với quyền đề cử người vào thành viên Hội Đồng Quản Trị, Ban Kiểm Soát và quyền khởi kiện đối với người quản lý (Điều 166 Luật Doanh Nghiệp 2020). Hơn thế nữa, Điều 115 của Luật Doanh Nghiệp 2020 cũng bổ sung thêm quy định cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 05% tổng số cổ phần phổ thông trở lên được quyền triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông trong một số trường hợp và yêu cầu Ban kiểm soát kiểm tra các vấn đề liên quan đến việc quản lý công ty. Quy định mới này đã mở rộng quyền cho nhóm cổ đông thiểu số thông qua việc tạo cho họ sự chủ động trong việc bảo vệ quyền lợi của mình. 

Nhóm quyền thông tin

Theo Bộ Nguyên Tắc OECD, thông tin phải được công bố công khai và minh bạch. Các thông tin phải công bố bao gồm (i) các kết quả hoạt động kinh và tài chính của Công ty như báo cáo tài chính, (ii) các mục tiêu hoạt động của công ty, (iii) sở hữu của các cổ đông chính và có quyền biểu quyết…. Nhóm quyền này giúp cổ đông thiểu số nắm bắt tình hình hoạt động cụ thể của công ty và có những biện pháp kiểm tra, ngăn ngừa hành vi vi phạm. Ngoài ra, Luật Doanh Nghiệp 2020 đã bổ sung quy định tập hợp và cập nhật danh sách những người có liên quan đến công ty, thành viên hội đồng quản trị phải kê khai các lợi ịch liên quan đến của mình với công ty (Điều 164 Luật Doanh Nghiệp 2020). Quy định này đã mở ra một cánh cửa cho nhóm cổ đông thiểu số có thể kiểm soát được giao dịch giữa hội đồng quản trị và người liên quan, giúp mọi giao dịch trở nên minh bạch và công bằng hơn. 

Về nhóm quyền thông tin này, quy định pháp luật Việt Nam cũng như Luật Doanh Nghiệp 2020 cơ bản đã quy định khá đầy đủ. Một số ít bất cập như lượng thông tin bắt buộc phải cung cấp khi có yêu cầu hạn chế và chủ yếu chú ý đến có thông tin trong quá khứ, song Luật Doanh Nghiệp 2020 cũng có những thay đổi đáng kể liên quan đến việc bảo vệ cổ đông thiểu số. Tuy nhiên, lợi ích của việc áp dụng nhóm quyền này còn phụ thuộc vào năng lực và khả năng phân tích đánh giá những thông tin của cổ đông thiểu số. 

Nhóm quyền phục hồi quyền lợi

Đây là quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng Tài hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định của Đại hội đồng cổ đông. Khác với Luật Doanh Nghiệp 2014, Luật Doanh Nghiệp 2020 trao quyền này cho cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu 5% cổ phần phổ thông trở lên để yêu cầu Tòa án hoặc Trọng Tài xem xét, hủy bỏ nghị quyết hoặc một phần nội dung nghị quyết Đại hội đồng cổ đông trong trường hợp vi phạm nghiêm trọng trình tự, thủ tục ra triệu tập họp và ra quyết định hoặc nội dung Nghị quyết vi phạm pháp luật hoặc điều lệ công ty. Với quy định của quyền này, Luật Doanh Nghiệp đã tạo cơ hội cho cổ đông mà đặc biệt là cổ đông thiểu số chủ động can thiệp vào những vấn đề nội bộ của Công Ty cũng như chủ động bảo vệ mình. Tuy nhiên, thực tiễn thực thi quyền này, cổ đông thiểu số lại rất ít khi sử dụng. Ngoài ra, việc yêu cầu giải quyết Trọng tài giải quyết chỉ có thể thực hiện được khi xác định tranh chấp đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài thương mại theo Khoản 1 Điều 2 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 – là “Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại”, mà hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh. Do đó, việc cổ đông yêu cầu Trọng tài hủy quyết định của ĐHĐCĐ có thuộc thẩm quyền của trọng tài hay không là vấn đề còn rất nhiều ý kiến khác nhau. Hơn thế nữa, trong thủ tục giải quyết tại Tòa án, việc xác định yêu cầu hủy quyết định của Đại hội đồng cổ đông là một tranh chấp kinh doanh, thương mại theo thủ tục tố tụng hay chỉ là yêu cầu về kinh doanh, thương mại theo thủ tục tố tụng đối với việc dân sự vẫn còn là một vấn đề còn bỏ ngõ. 

Bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số là một vấn đề được nhiều quốc gia quan tâm, lợi ích của các cổ đông hay của các nhà đầu tư trong nền kinh tế luôn tác động trực tiếp đến sự phát triển của từng công ty và ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế. Quy định pháp luật doanh nghiệp Việt Nam cũng đã có những quy định khá đầy đủ trong việc bảo vệ cổ đông thiểu số, tuy nhiên, việc thực thi các quyền năng này vẫn chưa hiệu quả và triệt để trên thực tế. 

Trên đây là tổng quan các nhóm quyền cơ bản mà các cổ đông thiểu số nên nắm rõ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi sở hữu cổ phần trong các Công ty cổ phần.