Phân biệt dịch vụ phần mềm và dịch vụ điện toán đám mây theo pháp luật Việt Nam  

Trong thời đại số hóa và chuyển đổi công nghệ mạnh mẽ hiện nay, việc tăng cường sử dụng các giải pháp phần mềm và nền tảng điện toán đám mây để tối ưu hóa hoạt động vận hành là nhu cầu thiết yếu và cấp bách của các tổ chức, doanh nghiệp.

Tại Việt Nam, phần mềm và dịch vụ phần mềm được điều chỉnh bởi Luật Công nghệ thông tin 2006 và Nghị định 71/2007, tuy nhiên, đạo Luật Viễn Thông 2023 vừa có hiệu lực vào tháng 07/2024 có một số quy định mới về điện toán đám mây và dịch vụ điện toán đám mây khiến nhiều tổ chức, cá nhân hiện cũng gặp khó khăn trong việc xác định bản chất dịch vụ của mình. Việc phân biệt giữa dịch vụ phần mềm và dịch vụ điện toán đám mây không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến nghĩa vụ thuế, đặc biệt là thuế giá trị gia tăng (GTGT) của doanh nghiệp tại Việt Nam.

Bài viết này sẽ cung cấp khái niệm của các loại hình dịch vụ này theo quy định của pháp luật hiện hành và một số cơ sở tham khảo để phân biệt các loại hình dịch vụ này:

1. Dịch vụ phần mềm  

Căn cứ theo Nghị định 71/2007/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công nghệ thông tin:

  • Sản phẩm phần mềm là phần mềm và tài liệu kèm theo được sản xuất và được thể hiện hay lưu trữ ở bất kỳ một dạng vật thể nào, có thể được mua bán hoặc chuyển giao cho đối tượng khác khai thác, sử dụng. (khoản 1 Điều 3)
  • Dịch vụ phần mềm là hoạt động trực tiếp hỗ trợ, phục vụ việc sản xuất, cài đặt, khai thác, sử dụng, nâng cấp, bảo hành, bảo trì phần mềm và các hoạt động tương tự khác liên quan đến phần mềm. (khoản 10 Điều 3)

Nghị định này cũng liệt kê chi tiết các loại dịch vụ phần mềm (khoản 3 Điều 9), bao gồm:

  • Quản trị, bảo hành, bảo trì phần mềm và hệ thống thông tin;
  • Tư vấn, đánh giá, thẩm định chất lượng phần mềm;
  • Xây dựng, triển khai dự án phần mềm;
  • Định giá, chuyển giao công nghệ phần mềm;
  • Tích hợp hệ thống, bảo đảm an toàn – an ninh cho phần mềm;
  • Phân phối, cung ứng sản phẩm phần mềm;
  • Và các dịch vụ phần mềm khác.

Theo khoản 21 Điều 5 Luật Thuế GTGT năm 2024, “sản phẩm phần mềm và dịch vụ phần mềm theo quy định của pháp luật” là đối tượng không chịu thuế GTGT.

2. Dịch vụ điện toán đám mây  

Theo Luật Viễn thông 2023, dịch vụ điện toán đám mây được quy định tại khoản 10 và 11 Điều 3 như sau:

  • Điện toán đám mây là mô hình cho phép sử dụng linh hoạt các tài nguyên điện toán dùng chung như mạng, máy chủ, lưu trữ, ứng dụng.
  • Dịch vụ điện toán đám mây là dịch vụ viễn thông cung cấp tính năng xử lý, lưu trữ, truy xuất thông tin cho người dùng thông qua mạng viễn thông và hạ tầng điện toán đám mây.

Vì đây là dịch vụ viễn thông, nên theo Điều 9 Luật Thuế GTGT năm 2024, dịch vụ điện toán đám mây chịu thuế GTGT với mức thuế suất 10%.

3. Tiêu chí nhận diện dịch vụ điện toán đám mây 

Mặc dù đã được định nghĩa tại các văn bản luật, khái niệm về “dịch vụ điện toán đám mây” vẫn chưa được hướng dẫn chi tiết bằng văn bản dưới luật, dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trong thực tiễn. Trong khi đó, rất nhiều phần mềm trên thị trường có cung cấp các dịch vụ lưu trữ trên đám mây hoặc sử dụng từ “Cloud” (đám mây) trong tên gọi của mình, từ đó cũng dẫn đến khó khăn cho doanh nghiệp trong việc xác định bản chất dịch vụ của mình và xác định mức thuế GTGT tương ứng để áp dụng.

Tham khảo nội dung Công văn số 783/THH-HTDL ngày 16/6/2020 của Cục Tin học hóa – Bộ Thông tin và Truyền thông về việc cung cấp những chỉ dẫn cần thiết trong việc triển khai áp dụng, sử dụng dịch vụ điện toán đám mây của doanh nghiệp vào hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước, Cục Tin học hóa đưa ra 05 đặc điểm cốt lõi của một dịch vụ điện toán đám mây:

STT  Tiêu chí  Mô tả 
1  Tự phục vụ theo yêu cầu  Người dùng tự điều chỉnh dịch vụ mà không cần tương tác với nhà cung cấp 
2  Truy cập qua mạng  Dịch vụ truy cập được từ xa, tại mọi thời điểm và thiết bị 
3  Chia sẻ tài nguyên  Hạ tầng được chia sẻ giữa nhiều khách hàng 
4  Co giãn linh hoạt  Có thể mở rộng hoặc thu hẹp quy mô dịch vụ theo nhu cầu 
5  Đo lường dịch vụ  Việc sử dụng được đo lường và tính phí theo thực tế sử dụng 

Tại văn bản này, Cục Tin học hóa cũng nêu quan điểm nếu một dịch vụ không hội đủ các tiêu chí này, thì không được xem là dịch vụ điện toán đám mây, dù có liên quan đến nền tảng phần mềm trực tuyến. 

So sánh Dịch vụ phần mềm với Dịch vụ điện toán đám mây 

Tiêu chí  Dịch vụ phần mềm  Dịch vụ điện toán đám mây 
Căn cứ pháp lý  Nghị định 71/2007/NĐ-CP  Luật Viễn thông 2023 
Bản chất  Hỗ trợ sử dụng phần mềm, không phụ thuộc hạ tầng dùng chung  Cung cấp tài nguyên tính toán, xử lý, lưu trữ thông qua mạng 
Đặc điểm kỹ thuật  Không yêu cầu truy cập mạng, không chia sẻ tài nguyên  Phải có chia sẻ tài nguyên, co giãn, đo lường, tự phục vụ 
Đối tượng chịu thuế GTGT  Không chịu thuế (0%)  Chịu thuế 10% 

4. Kết luận 

Việc phân biệt giữa dịch vụ phần mềm và dịch vụ điện toán đám mây không chỉ là vấn đề học thuật, mà có tác động tới nghĩa vụ của doanh nghiệp, đặc biệt trong việc xác định nghĩa vụ thuế GTGT:

  • Nếu chỉ phân phối phần mềm, cung cấp bản quyền hoặc dịch vụ kỹ thuật liên quan phần mềm, doanh nghiệp có thể được áp dụng chính sách không chịu thuế GTGT.
  • Đối với dịch vụ có yếu tố điện toán đám mây: cần phân tích cụ thể từng phần để xác định phần nào chịu thuế, phần nào không.

Mặc dù các phân tích trên, cần lưu ý rằng Công văn số 783/THH-HTDL ngày 16/6/2020 của Cục Tin học hóa – Bộ Thông tin và Truyền thông hiện cũng chỉ là văn bản nội bộ, không phải một văn bản quy phạm pháp luật chính thống theo quy định của pháp luật Việt Nam. Do đó, trong trường hợp không chắc chắn, doanh nghiệp nên chủ động xin ý kiến xác nhận từ các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành để có căn cứ rõ ràng khi xuất hóa đơn và kê khai thuế tránh rủi ro pháp lý và tối ưu chi phí tuân thủ.

Ngày viết bài: 20/07/2025

Chia sẻ: share facebook share twitter share linkedin share instagram

Tìm hiểu cách chúng tôi có thể giúp doanh nghiệp của bạn

Khách hàng của chúng tôi

Liên hệ tư vấn



    Send Contact
    Call Us
    Zalo