Luật Công nghiệp công nghệ số được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV ngày 14/06/2025 dự kiến có hiệu lực vào ngày 01/01/2026. Luật Công nghiệp công nghệ số mở ra kỷ nguyên mới về ngành công nghiệp công nghệ số tại Việt Nam. Dự thảo Luật Công nghiệp công nghệ số được thể chế từ các chủ trương lớn được nêu tại Nghị quyết 57-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị. Một số nội dung nổi bật tại Luật Công nghiệp công nghệ số như sau:
1. Khung pháp lý đầu tiên về trí tuệ nhân tạo và tài sản số
Pháp luật Việt Nam lần đầu tiên được quy định tại Luật Công nghiệp công nghệ (“Luật CNCNS”) như là một bước tiến vượt bậc của Việt Nam trong thời đại công nghệ số, đến gần hơn với các quốc gia trên thế giới… Phạm vi điều chỉnh của Luật CNCNS xoay quanh sự phát triển công nghiệp công nghệ số, công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, tài sản số, cũng như quyền và trách nhiệm của các chủ thể có liên quan.(1)
Trí tuệ nhân tạo và tài sản số được quy định tại Chương IV và Chương V tương ứng. Các quy định về trí tuệ nhân tạo và tài sản số tại Luật CNCNS được cụ thể hóa tại văn bản hướng dẫn. Một số điểm cần chú ý ở 02 (hai) đối tượng này tại Luật CNCNS:
1.1. Trí tuệ nhân tạo
Hệ thống trí tuệ nhân tạo được định nghĩa tại khoản 9 Điều 3 Luật CNCNS là hệ thống dựa trên máy móc được thiết kế để hoạt động với các mức độ tự chủ khác nhau và có khả năng thích ứng sau khi triển khai nhằm đạt được những mục tiêu rõ ràng hoặc ngầm định, suy luận từ dữ liệu đầu vào mà hệ thống này nhận được để tạo ra dự đoán, nội dung, khuyến nghị, quyết định có thể ảnh hưởng đến môi trường thực hoặc môi trường điện tử. Hệ thống trí tuệ nhân tạo là sản phẩm công nghệ số tích hợp giữa phần cứng, phần mềm và dữ liệu.
Danh mục sản phẩm được tạo ra bởi trí tuệ nhân tạo sẽ được Bộ trưởng Bộ Khoa học và công nghệ quy định chi tiết tại văn bản hướng dẫn.(2)
1.2. Tài sản số
Tài sản số là tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự, được thể hiện dưới dạng dữ liệu số, được tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao và xác thực bởi công nghệ số trên môi trường điện tử.(3) Luật CNCNS đưa ra các tiêu chí phân loại cho tài số bao gồm (i) mục đích sử dụng, (ii) công nghệ và (iii) các tiêu chí khác, trong đó có 02 loại tài sản số được Luật CNCNS quy định:
- Tài sản ảo trên môi trường điện tử là một loại tài sản số có thể được dùng cho mục đích trao đổi hoặc đầu tư. Tài sản ảo không bao gồm chứng khoán, các dạng số của tiền pháp định và tài sản tài chính khác theo quy định của pháp luật về dân sự, tài chính;
- Tài sản mã hóa là một loại tài sản số mà sử dụng công nghệ mã hóa hoặc công nghệ số có chức năng tương tự để xác thực đối với tài sản trong quá trình tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao. Tài sản mã hoá không bao gồm chứng khoán, các dạng số của tiền pháp định và tài sản tài chính khác theo quy định của pháp luật về dân sự, tài chính;
Từ định nghĩa trên, Luật CNCNS đã giới hạn tài sản số không bao gồm các tài sản sản như chứng khoán, các dạng số của tiền pháp định và tài sản tài chính khác theo quy định pháp luật về dân sự, tài chính. Tương tự với trí tuệ nhân tạo, các định nghĩa và quy định về tài sản số tại Luật CNCNS số hiện nay chỉ mang tính chất khái quát về tài sản số, việc áp dụng các quy định về tài sản số trên thực tế sẽ phụ thuộc vào các văn bản hướng dẫn chi tiết của cơ quan chuyên ngành.
2. Các ưu đãi đối với hoạt động công nghiệp công nghệ số
Các hoạt động về phát triển hạ tầng công nghiệp công nghệ số được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế, đất đai cũng như được thực hiện từ các nguồn ngân sách công. Chính sách thuế không chỉ áp dụng đối với các doanh nghiệp vừa và lớn, pháp luật về công nghiệp công nghệ số quy định những chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp sáng tạo đổi mới như thuế, đất đai,…. Ngoài ra, những dự án khởi nghiệp sáng tạo trong công nghiệp công nghệ số được hỗ trợ kinh phí trực tiếp từ ngân sách địa phương theo Luật Ngân sách nhà nước hoặc từ Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ số cho các hoạt động bao gồm:
- Đào tạo phát triển nguồn nhân lực công nghiệp công nghệ số;
- Thu hút nguồn nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao, nhân tài công nghệ số;
- Nghiên cứu và phát triển; sản xuất thử nghiệm;
- Tư vấn khởi nghiệp.
Chính sách hỗ trợ áp dụng cho cả nguồn lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao, bao gồm cả người Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài.(4) Chẳng hạn như, với các nhân lực có nguyện vọng đáp ứng tiêu chí trở thành nhân lực công nghiệp công nghệ số được xem xét tiếp nhận làm công chức, viên chức mà không cần phải thông qua thi tuyển, xét tuyển.(5)
3. Ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp cho hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm.
Luật CNCNS xác định hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số được hưởng ưu đãi cao nhất theo quy định pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.(6) Các khoản chi của doanh nghiệp cho nghiên cứu và phát triển được tăng mức chi bổ sung sau khi xác định thu nhập doanh nghiệp theo quy định pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp. Có thể hiểu rằng, các hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghiệp công nghệ số của doanh nghiệp sẽ được tăng lên, từ đó doanh nghiệp được giảm mức thuế thu nhập doanh nghiệp phải đóng.
(1) Điều 1 Dự thảo Luật Công nghiệp công nghệ số.
(2) Điểm a khoản 3 Điều 44 Dự thảo Luật Công nghiệp công nghệ số.
(3) Điều 46 Dự thảo Luật Công nghiệp công nghệ số.
(4) Khoản 1 Điều 19 Dự thảo Luật Công nghiệp công nghệ số.
(5) Điểm a khoản 4 Điều 19 Dự thảo Luật Công nghiệp công nghệ số.
(6) Khoản 1 Điều 16 Dự thảo Luật Công nghiệp công nghệ số.
Ngày viết bài: 20/09/2025
Bài viết liên quan:
2/ Hành lang pháp lý cho thị trường giao dịch tài sản mã hóa tại Việt Nam
Khuyến cáo:
Bài viết này chỉ nhằm mục đích cung cấp các thông tin chung và không nhằm cung cấp bất kỳ ý kiến tư vấn pháp lý cho bất kỳ trường hợp cụ thể nào. Các quy định pháp luật được dẫn chiếu trong nội dung bài viết có hiệu lực vào thời điểm đăng tải bài viết nhưng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đọc. Do đó, chúng tôi khuyến nghị bạn luôn tham khảo ý kiến của chuyên gia trước khi áp dụng.
Các vấn đề liên quan đến nội dung hoặc quyền sở hữu trí tuệ liên của bài viết, vui lòng gửi email đến cs@apolatlegal.vn.
Apolat Legal là một công ty luật tại Việt Nam có kinh nghiệm và năng lực cung cấp các dịch vụ tư vấn liên quan đến Công nghệ thông tin. Vui lòng tham khảo về dịch vụ của chúng tôi và liên hệ với đội ngũ luật sư tại Viêt Nam của chúng tôi thông qua email info@apolatlegal.com.


