Rút yêu cầu là quyền tố tụng thể hiện nguyên tắc tự định đoạt. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền này không phải lúc nào cũng tuyệt đối và phải tuân theo điều kiện pháp luật.
Bài viết này nhằm cung cấp cái nhìn hệ thống và thực tiễn về quyền rút yêu cầu của đương sự trong vụ án dân sự, đồng thời đề xuất một số lưu ý hữu ích cho doanh nghiệp và cá nhân trong quá trình tham gia tố tụng.
1. Khái niệm rút yêu cầu của đương sự
Rút yêu cầu là hành vi tố tụng của đương sự nhằm từ bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu đã đưa ra trước đó trong quá trình tố tụng dân sự, bao gồm: (i) Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; (ii) Yêu cầu phản tố của bị đơn; và (iii) Yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Việc rút yêu cầu là quyền tự định đoạt, nhưng việc thực hiện phải tuân thủ điều kiện pháp luật, đặc biệt là về tính tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.
2. Các giai đoạn rút yêu cầu trong tố tụng dân sự
2.1. Trước khi Tòa án thụ lý vụ án
Ở giai đoạn này, nếu người khởi kiện rút đơn khởi kiện trước khi Tòa án ra thông báo thụ lý, thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện theo Điểm g Khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015.
Do vụ án chưa được thụ lý, nên chưa phát sinh tư cách đương sự cũng như nghĩa vụ tố tụng, bao gồm cả nghĩa vụ nộp tạm ứng án phí. Đây là thời điểm thuận lợi để rút yêu cầu nếu các bên đạt được thỏa thuận ngoài tố tụng hoặc nhận thấy việc khởi kiện không cần thiết.
2.2. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm
Khi vụ án đã được Tòa án thụ lý và đang trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, các đương sự vẫn có quyền rút yêu cầu. Theo Điểm c Khoản 1 Điều 217 BLTTDS:
“1. Sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau đây:
c) Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện […].”
Trong trường hợp này, Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Hậu quả pháp lý của việc đình chỉ được quy định tại Điều 218 BLTTDS, theo đó: đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự, được trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp và được quyền kháng cáo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.
Tuy nhiên, để quyết định đình chỉ có hiệu lực toàn phần, Tòa án phải xem xét thêm vụ án có còn tồn tại các yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan hay không. Trường hợp có, Tòa án không thể đình chỉ toàn bộ vụ án mà phải tiếp tục giải quyết các yêu cầu còn lại, đồng thời xác định lại địa vị tố tụng của các bên theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 217 BLTTDS.
Như vậy, quyền rút yêu cầu trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm tuy là một biểu hiện của quyền tự định đoạt trong tố tụng dân sự, nhưng việc thực hiện quyền này cần được đặt trong tổng thể các mối quan hệ tố tụng đang tồn tại, để Tòa án có thể xử lý đúng quy trình, đảm bảo công bằng và minh bạch trong phân định quyền và nghĩa vụ giữa các bên liên quan.
2.3. Tại phiên tòa sơ thẩm
Tại phiên tòa sơ thẩm, đương sự vẫn có quyền rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình theo Khoản 2 Điều 244 BLTTDS:
“2. Trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đương sự đã rút.”
Khác với giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm (chỉ giải quyết trường hợp rút toàn bộ yêu cầu), tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có thể xem xét mọi trường hợp rút yêu cầu, kể cả rút một phần.
Việc đình chỉ này được ghi nhận trực tiếp trong phần quyết định của bản án hoặc bằng quyết định riêng ngay tại phiên tòa, tùy thuộc vào tính chất và thời điểm rút yêu cầu.
Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận việc rút yêu cầu nếu đó là hành vi tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, và không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bên còn lại hoặc người thứ ba. Nếu còn tồn tại yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập, hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát, thì phần còn lại của vụ án vẫn tiếp tục được giải quyết.
2.4. Trong giai đoạn phúc thẩm
Theo Khoản 1 Điều 299 và Khoản 2 Điều 289 BLTTDS, trong giai đoạn phúc thẩm – dù là trước khi mở phiên tòa hay tại phiên tòa phúc thẩm – đương sự vẫn có quyền rút yêu cầu đã kháng cáo. Khi đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm phải hỏi ý kiến các bên còn lại. Cụ thể:
- Nếu các đương sự liên quan đồng ý, Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ ra quyết định hủy bản án sơ thẩm đối với phần yêu cầu bị rút và đình chỉ giải quyết phần đó của vụ án.
- Nếu có đương sự không đồng ý, hoặc còn yêu cầu khác chưa được giải quyết, Tòa án vẫn phải tiếp tục xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
- Đặc biệt, nếu vụ án đang có kháng nghị của Viện kiểm sát, thì dù nguyên đơn rút yêu cầu, vụ án vẫn phải được xét xử để đảm bảo kiểm tra tính đúng đắn của bản án sơ thẩm. Việc đình chỉ chỉ được xem xét khi kháng nghị được rút hoặc không còn nội dung để tiếp tục xét xử.
Hiện nay, pháp luật chưa quy định cụ thể trường hợp bị đơn vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm có đơn xin xét xử vắng mặt hay cố tình vắng mặt. Do đó, dẫn đến thực tiễn áp dụng còn chưa thống nhất:
- Nếu bị đơn có đơn xét xử vắng mặt hoặc có kháng cáo, Hội đồng xét xử nên tạm dừng phiên tòa để lấy ý kiến bị đơn về việc rút yêu cầu.
- Nếu bị đơn vắng mặt không lý do và không có kháng cáo, Hội đồng xét xử có thể tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
Tóm lại, việc rút yêu cầu tại giai đoạn phúc thẩm không đương nhiên dẫn đến kết thúc vụ án, mà cần xét đến ý kiến của các đương sự và cả kháng nghị của Viện kiểm sát nếu có.
3. Một số lưu ý và khuyến nghị cho doanh nghiệp, cá nhân khi rút yêu cầu
Việc rút yêu cầu tưởng chừng đơn giản nhưng thực tế có thể để lại nhiều hệ quả pháp lý hoặc chi phí nếu không được cân nhắc kỹ. Dưới đây là một số khuyến nghị thực tiễn:
- Xác định rõ thời điểm rút yêu cầu: Việc rút trước khi Tòa án thụ lý sẽ đơn giản hơn và ít ràng buộc hơn về chi phí.
- Tham khảo ý kiến luật sư trước khi rút yêu cầu: Việc rút yêu cầu có thể là một bước đi chiến lược trong tố tụng, nhưng nếu thực hiện không đúng thời điểm có thể khiến bên rút mất đi lợi thế đàm phán hoặc quyền khởi kiện lại.
- Kiểm tra kỹ xem bên còn lại có yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập hay không, để tránh nhầm tưởng rằng rút yêu cầu là kết thúc vụ án.
- Lưu ý về chi phí tố tụng: Tiền tạm ứng án phí cho phần yêu cầu đã rút thường không được hoàn lại nếu vụ án đã được thụ lý.
- Ở cấp phúc thẩm, việc rút yêu cầu không đồng nghĩa vụ án kết thúc nếu còn kháng cáo hoặc kháng nghị.
Tác giả: Nguyễn Thị Thúy Hiền
Ngày viết bài: 20/07/2025
Khuyến cáo:
Bài viết này chỉ nhằm mục đích cung cấp các thông tin chung và không nhằm cung cấp bất kỳ ý kiến tư vấn pháp lý cho bất kỳ trường hợp cụ thể nào. Các quy định pháp luật được dẫn chiếu trong nội dung bài viết có hiệu lực vào thời điểm đăng tải bài viết nhưng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đọc. Do đó, chúng tôi khuyến nghị bạn luôn tham khảo ý kiến của chuyên gia trước khi áp dụng.
Các vấn đề liên quan đến nội dung hoặc quyền sở hữu trí tuệ liên của bài viết, vui lòng gửi email đến cs@apolatlegal.vn.
Apolat Legal là một công ty luật tại Việt Nam có kinh nghiệm và năng lực cung cấp các dịch vụ tư vấn liên quan đến Giải quyết tranh chấp. Vui lòng tham khảo về dịch vụ của chúng tôi Giải quyết tranh chấp và liên hệ với đội ngũ luật sư tại Viêt Nam của chúng tôi thông qua email info@apolatlegal.com.


