Giao dịch đáng chú ý gần đây

Apolat Legal đã tư vấn nhiều giao dịch định hình thị trường trên một loạt các ngành công nghiệp trong lĩnh vực năng lượng, thương mại điện tử, công nghệ, bán lẻ, hậu cần, bất động sản, …

Xem thêm

Sáp nhập và đầu tư

  • Đầu tư nước ngoài
  • Tuân thủ pháp luật
  • Mua bán & Sáp nhập
  • Chi tiết

Thương mại trong và ngoài nước

  • Thương mại quốc tế
  • Mua bán
  • Phân phối
  • Chi tiết

Giải quyết tranh chấp

Lao động

  • Lao động quốc tế
  • Phúc lợi
  • Quản lý nhân sự
  • Chi tiết

Sở hữu trí tuệ

  • Nhượng quyền thương mại
  • Nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp
  • Bản quyền và bằng sáng chế
  • Chi tiết

Bất động sản

  • Bất động sản
  • Cơ sở hạ tầng
  • Giao dịch thuê
  • Chi tiết

Chúng tôi luôn tin rằng

Tại Apolat Legal, sự đa dạng, hòa nhập và bình đẳng là một phần trong cách sống và giá trị của chúng tôi.

Chúng tôi áp dụng các giá trị vào tất cả các hoạt động của chúng tôi trên toàn cầu. Các giá trị đó phản ánh văn hóa và tính cách của chúng tôi cả bên trong lẫn bên ngoài, cách chúng tôi làm việc và những gì chúng tôi đại diện. 

Tầm nhìn của chúng tôi

Tiên phong

Chúng tôi luôn nỗ lực trở thành công ty luật tiên phong với các cam kết về chất lượng và cải tiến dịch vụ cho khách hàng của chúng tôi.

Giá trị cốt lõi của chúng tôi

Đổi mới

Chúng tôi luôn theo đuổi sự xuất sắc và tìm cách đổi mới trong mọi điều chúng tôi làm với mục đích tạo ra giá trị thực cho khách hàng.

Đồng đội của chúng tôi

Đa dạng

Chúng tôi coi trọng sự đa dạng và tôn trọng cá nhân. Chúng tôi tin vào tinh thần đồng đội vì lợi ích của công ty và khách hàng của chúng tôi.

Khách hàng của chúng tôi

Mối quan hệ bền vững

Chúng tôi tin tưởng vào mối quan hệ lâu dài với khách hàng dựa trên sự cởi mở và trung thực với trọng tâm luôn là lợi ích của khách hàng.

Cộng đồng xung quanh chúng tôi

Sự kết nối

Sức mạnh và tầm nhìn của chúng tôi sẽ được hình thành dựa trên bản sắc thực tiễn của địa phương, mối quan hệ và văn hoá làm việc của chúng tôi.

Cập nhật mới nhất

TIN TỨC VÀ CẬP NHẬT PHÁP LÝ

[Cập nhật pháp lý] Một số nghĩa vụ pháp lý quan trọng cần thực hiện

1| Quy định và Thực trạng kê khai giá trị giao dịch chuyển nhượng bất động sản

Theo quy định của pháp luật về thuế, thuế thu nhập cá nhân (thuế TNCN) đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản được xác định như sau:

Thuế TNCN phải nộp = Giá chuyển  nhượng x Thuế suất 2%

(Điều 12 Thông tư số 111/2013/TT-BTC, sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 92/2015/TT-BTC).

Về lệ phí trước bạ, quy định tại Khoản 1, Điều 7 Nghị định 140/2016/NĐ-CP nêu rõ, mức lệ phí trước bạ đối với nhà, đất là 0,5%. Thông tư 301/2016/TT-BTC quy định, số tiền lệ phí trước bạ phải nộp được xác định:

Tiền lệ phí trước bạ phải nộp = Giá trị tài sản tính lệ phí trước bạ x Mức thu lệ phí trước bạ theo tỷ lệ (%)

Trong đó, Giá tính lệ phí trước bạ đối với đất là giá đất tại Bảng giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành tại thời điểm kê khai lệ phí trước bạ. Giá tính lệ phí trước bạ đối với nhà là giá do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành theo quy định của pháp luật về xây dựng tại thời điểm kê khai lệ phí trước bạ. (Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 140/2016/NĐ-CP, sửa đổi bởi Nghị định 20/2019/NĐ-CP).

Tại công văn số 5235/TCT-DNNCN ngày 16/12/2019 gửi đến Cục Thuế cấp tỉnh, Tổng Cục Thuế đề cập đến thực trạng rằng giá chuyển nhượng được người nộp thuế kê khai để tính thuế TNCN và lệ phí trước bạ không sát với thực tế thị trường, cụ thể:

  • Người nộp thuế kê khai giá chuyển nhượng thấp hơn rất nhiều so với giá đất do Ủy Ban nhân dân cấp tỉnh quy định;
  • Có sự chênh lệch lớn về giá trị của cùng một bất động sản của các lần giao dịch khác nhau trong một thời gian ngắn;
  • Giá tính thuế đất của bất động sản hình thành trong tương lai cao hơn nhiều lần so với giá tính thuế của bất động sản đã hoàn thành, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất…

2| Quan điểm xử lý của Cơ quan thuế đối với các giao dịch chuyển nhượng bất động sản được kê khai với giá trị thấp

Từ các thực trạng được phản ánh nêu trên, Tổng Cục Thuế yêu cầu các Cục thuế cấp tỉnh nghiêm chỉnh thực hiện các biện pháp sau:

Chủ động phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan tham mưu, báo cáo Ủy Ban Nhân Dân cấp tỉnh xây dựng bảng giá đất giai đoạn 2020-2024 sát với giá đất phổ biến trên thị trường. Đối với các vị trí đất tại các dự án đô thị, khu dân cư sau khi đã được xây dựng cơ sở hạ tầng thì Cục Thuế phải chủ động báo cáo, kiến nghị với Ủy Ban Nhân Dân cấp tỉnh để điều chỉnh Bảng Giá Đất cho phù hợp.

Báo cáo Ủy Ban Nhân Dân cấp tỉnh chỉ đạo Văn Phòng công chứng trên địa bàn tăng cường phối hợp, trao đổi và cung cấp thông tin với cơ quan thuế để cùng quản lý về giá tính thuế chuyển nhượng bất động sản phù hợp với giá thực tế giao dịch.

Tăng cường kiểm tra giám sát và chỉ đạo các Chi Cục Thuế tăng cường công tác quản lý thuế TNCN đối với bất động sản.

Từ những nội dung yêu cầu thắt chặt hơn trong công tác quản lý thuế của Tổng Cục Thuế nêu trên, các chi Cục Thuế đã có những biện pháp xử lý quyết liệt hơn đối với các hành vi kê khai giá trị chuyển nhượng có dấu hiệu gian dối nhằm trốn thuế.

Đơn cử, trong tháng 12 năm 2019 vừa qua, Chi cục Thuế quận 10, thành phố Hồ Chí Minh đã gửi công văn cho Công an quận 10 điều tra, làm rõ dấu hiệu trốn thuế trong giao dịch chuyển nhượng bất động sản, khi giá trị chuyển nhượng căn hộ chung cư (lần hai) được các bên khai để nộp thuế thấp hơn giá trị mà chủ đầu tư đã bán và thấp hơn giá trị trường.

Do đó, các cá nhân cần lưu ý kê khai giá trị chuyển nhượng bất động sản để nộp thuế đúng với giá trị thực tế chuyển nhượng để tránh các rủi ro xử phạt vi phạm hành chính từ cơ quan nhà nước, hoặc nghiêm trọng hơn là bị xử lý hình sự.

3| Trách nhiệm hình sự của doanh nghiệp khi vi phạm các tội về sở hữu trí tuệ

Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2018, đã có quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với một số tội phạm nhất định được quy định tại Điều 76 Bộ luật hình sự.

Trong đó, các tội phạm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gồm tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan (Điều 225) và tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 226) cũng thuộc phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại theo quy định tại khoản 1 Điều 76 Bộ luật hình sự.

Quy định là vậy, nhưng từ lúc Bộ luật hình sự có hiệu lực thi hành đến nay, việc thi hành chế tài xử lý hình sự đối với pháp nhân nói chung và đối với các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói riêng vẫn chưa được thực hiện một cách triệt để, một phần có thể đến từ việc thiếu kinh nghiệm xử lý thực tế của cơ quan nhà nước.

Tuy nhiên, trong tháng 01 vừa qua, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã ban hành quyết định xử lý hình sự đối với hành vi xâm phạm nhãn hiệu được bảo hộ của một công ty. Trong trường hợp này, Công ty Cổ Phần Nhôm Việt Pháp – Nhà máy nhôm Việt Pháp (trụ sở đặt tại phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội) và Giám Đốc công ty bị truy tố vì sử dụng cụm từ “Nhôm Việt Pháp SHAL”, tương tự với một nhãn hiệu đã được bảo hộ của Công ty cổ phần nhôm Việt – Pháp SHAL – Nhà máy Nhôm Việt Pháp (trụ sở đặt tại TP Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình).

Theo phán quyết của Toà sơ thẩm vào ngày 14/01/2020 vừa qua, Công ty Cổ Phần Nhôm Việt Pháp – Nhà máy nhôm Việt Pháp (Hà Nội) bị phạt 2 tỷ đồng (khoảng 86.300 USD), và phải bồi thường cho Công ty cổ phần nhôm Việt – Pháp SHAL – Nhà máy Nhôm Việt Pháp (Ninh Bình) thiệt hại về vật chất là 500 triệu đồng (khoảng 21.600 USD) và thiệt hại về tinh thần với số tiền là 15 triệu đồng (khoảng 650 USD).

Giám đốc nhà Công ty Cổ Phần Nhôm Việt Pháp – Nhà máy nhôm Việt Pháp (Hà Nội) cũng bị phạt 500 triệu đồng và bị cấm giữ vị trí giám đốc trong thời gian 18 tháng.

Tuy đây mới chỉ là phán quyết của tòa sơ thẩm, chưa có hiệu lực và có thể bị kháng cáo, kháng nghị, nhưng đây cũng là một tin tốt cho các chủ thể nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam. Do đó, các tổ chức, cá nhân cũng cần lưu ý sớm tiến hành đăng ký bảo hộ đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ để bảo vệ quyền hợp pháp của mình, đồng thời không tùy tiện sử dụng các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đã được bảo hộ của người khác trong hoạt động kinh doanh.

Read more...

[Tin tức] Apolat Legal thông báo lịch nghỉ tết Canh Tý 2020

Kính gửi: Quý Khách Hàng – Đối Tác,

Công ty Luật TNHH Apolat Legal (“Apolat Legal) chân thành cảm ơn Quý Khách Hàng – Đối Tác đã luôn tin tưởng và lựa chọn sử dụng dịch vụ pháp lý của chúng tôi trong thời gian qua.

Sang thềm Tết Nguyên Đán Canh Tý – năm 2020, Apolat Legal kính chúc Quý Khách Hàng và Đối Tác một năm mới An Khang – Thắng Lợi.

Apolat Legal trân trọng thông báo rằng văn phòng của chúng tôi sẽ tạm ngưng làm việc từ ngày 23 tháng 01 năm 2020 đến ngày 29 tháng 01 năm 2020 (nhằm 29 tháng chạp năm Kỷ Hợi đến mùng 05 tháng giêng năm Canh Tý). Apolat Legal sẽ làm việc lại từ ngày 30 tháng 01 năm 2020 (nhằm mùng 06 tháng giêng năm Canh Tý).

Trong trường hợp khẩn cấp, vui lòng liên hệ với luật sư của chúng tôi theo địa chỉ email hoặc di động cá nhân của họ.

Chúng tôi xin lỗi vì bất kỳ sự bất tiện nào của bạn có thể xảy ra trong suốt kỳ nghỉ và cảm ơn tất cả các bạn đã ủng hộ chúng tôi.

Trân trọng.

Read more...

[Tin tức] Apolat Legal ký thỏa thuận hợp tác với công ty luật Tanna Law

Ngày 08/12/2019, Apolat legal đã ký Thỏa thuận hợp tác với Công Ty Luật Tanna Law – một công ty Luật tại Mỹ do Luật sư Ấn Độ là Ông Chetan P. Tanna điều hành, chuyên cung cấp dịch vụ Visa nhanh và làm thủ tục định cư tại Mỹ cho nhiều công dân muốn sinh sống và làm việc tại Mỹ. Hơn nữa, Tanna Law hỗ trợ các Nhà đầu tư Ấn Độ trong việc xúc tiến thương mại tại các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Vui lòng xem thông tin chi tiết tại website: https://tannalaw.com/tannaus/

Ngoài ra, Apolat Legal và Công ty Luật TNHH Nguyễn và Cộng Sự (“Nguyễn và Cộng sự”) cùng liên kết và hợp tác với Tanna Law để có thể hỗ trợ các cá nhân/ tổ chức Ấn Độ thực hiện các dự án tại Việt Nam.

Cụ thể, Ngày 13/01/2020,  đại diện Apolat Legal, Nguyễn và Cộng sự; và Tanna Law đã có buổi viếng thăm Tổng Lãnh Sự Quán Ấn Độ tại Thành phố Hồ Chí Minh để trao đổi về định hướng hỗ trợ và hợp tác với các tổ chức/ cá nhân Ấn Độ để đẩy mạnh phát triển đầu tư của Ấn Độ vào Việt Nam.

Read more...

BÀI VIẾT

Cấp Thẻ ABTC Tại Thành Phố Hồ Chí Minh Cần Những Gì?

Thẻ đi lại của doanh nhân APEC (APEC Business Travel Card), viết tắt ABTC, là một loại giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước và vùng lãnh thổ tham gia Chương trình thẻ đi lại của doanh nhân APEC cấp cho doanh nhân của mình để tạo thuận lợi cho việc đi lại thực hiện các hoạt động hợp tác kinh doanh, thương mại, đầu tư, dịch vụ; tham dự các hội nghị, hội thảo và các mục đích kinh tế khác tại các nước và vùng lãnh thổ thuộc APEC tham gia Chương trình. Người mang thẻ ABTC, khi nhập cảnh, xuất cảnh các nước và vùng lãnh thổ có tên ghi trong thẻ thì không cần phải có thị thực của các nước và vùng lãnh thổ đó.

Thẻ ABTC chỉ có giá trị nhập cảnh, xuất cảnh khi người mang thẻ xuất trình kèm theo hộ chiếu hợp lệ mà không cần xin visa, không cần làm thủ tục lưu trú và được xuất nhập cảnh nhiều lần tại các quốc gia/vùng lãnh thổ tham gia chương trình thẻ ABTC, gồm: Úc, Brunei, Chile, Trung Quốc, Đặc khu hành chính Hong Kong, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, New Zealand, Papua New Guinea, Peru, Philippines, Singapore, Lãnh thổ Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam. 

Mỗi lần nhập cảnh, người mang thẻ ABTC được các nước và vùng lãnh thổ thành viên cấp chứng nhận tạm trú theo thời hạn quy định của các nước hoặc vùng lãnh thổ đó, thường tối đa mỗi lần có thể từ 60 -90 ngày, ví dụ: thời gian lưu trú bằng thẻ ABTC tại Úc là 90 ngày, tại Hồng Kông là 60 ngày, tại Singapore là 60 ngày, tại Nhật Bản là 90 ngày… 

Thẻ ABTC chỉ có thời hạn sử dụng 05 năm, kể từ ngày cấp và không được gia hạn; trường hợp thẻ ABTC hết thời hạn sử dụng sẽ được cấp thẻ mới.

Như vậy, việc xin cấp thẻ ABTC khó hay không và những vướng mắc nào thường gặp khi thực hiện hồ sơ xin cấp thẻ ABTC cho doanh nhân Việt Nam đang làm việc tại doanh nghiệp được thành lập hợp pháp tại Thành phố Hồ Chí Minh?

Thứ nhất, về đối tượng được cấp thẻ ABTC, theo quy định tại Khoản 3 Điều 1 Quyết định 54/2015/QĐ-TTg thì doanh nhân Việt Nam đang làm việc tại doanh nghiệp thành lập hợp pháp theo quy định pháp luật Việt Nam thì sẽ được xin cấp thẻ ABTC, cụ thể là Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc hoặc Giám đốc công ty; Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc hợp tác xã hoặc liên hợp tác xã; Kế toán trưởng, Trưởng phòng trong các doanh nghiệp; Trưởng chi nhánh của các doanh nghiệp và các chức danh tương đương khác.

Thứ hai, về điều kiện đối với doanh nhân Việt Nam để được cấp thẻ ABTC, trước đây Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định 05/2014/QĐ-UBND quy định về thành phần hồ sơ và điều kiện về việc xin phép sử dụng thẻ ABTC tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay, Quyết định này đã bị bãi bỏ theo Quyết định 41/2016/QĐ-UBND và hết hiệu lực vào ngày 19/10/2016. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, Ủy Ban Nhân Dân vẫn chưa ban hành Quyết định mới nào quy định về điều kiện và hướng dẫn hồ sơ xin cấp thẻ ABTC. Dẫn đến tình trạng vướng mắc và khó khăn áp dụng để thực hiện thủ tục xin phép này. Do đó, hiện nay, đang vẫn tồn tại hai luồng quan điểm giữa các cơ quan đầu mối tiếp nhận hồ sơ trình Ủy Ban Nhân Dân xem xét cho phép sử dụng thẻ ABTC.

  • Hiện tại chưa ban hành quy định pháp luật mới về điều kiện xin cấp thẻ ABTC thì sẽ vẫn áp dụng các điều kiện theo Quyết định 05/2014/QĐ-UBND để xem xét cho phép sử dụng thẻ ABTC như sau:
    •  Có hộ chiếu phổ thông còn thời hạn sử dụng ít nhất 03 năm kể từ ngày nộp hồ sơ xét cho phép sử dụng thẻ ABTC;
    • Đang làm việc tại các doanh nghiệp có các hoạt động hợp tác kinh doanh, thương mại, đầu tư và dịch vụ với các đối tác trong các nền kinh tế thành viên tham gia thẻ ABTC;
    • Làm việc tại các doanh nghiệp được thể hiện bằng hợp đồng lao động, quyết định bổ nhiệm chức vụ và tham gia đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật;
    • Là người từ đủ 18 tuổi trở lên và không bị hạn chế hoặc không bị mất năng lực hành vi dân sự;
    • Là chủ sở hữu, thành viên góp vốn hoặc làm việc theo hợp đồng lao động (có hợp đồng lao động đã giao kết không xác định thời hạn) có thời gian làm việc tại doanh nghiệp trước khi đề nghị cấp thẻ ABTC tối thiểu là 12 tháng;
    • Có nhu cầu thường xuyên với các chuyến đi ngắn hạn tới các nền kinh tế thành viên ABTC để ký kết, thực hiện các cam kết kinh doanh trong khu vực APEC;
    • Làm việc trong doanh nghiệp có doanh thu sản xuất kinh doanh tối thiểu 10 tỉ Việt Nam đồng hoặc có tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tối thiểu tương đương 10 tỉ Việt Nam đồng trong năm gần nhất.
  • Hiện tại, Quyết định 05/2014/QĐ-UBND đã hết hiệu lực do đó, nếu doanh nghiệp có nhu cầu được xem xét cấp thẻ ABTC thì chỉ cần làm văn bản đề nghị gửi Ủy Ban Nhân Dân và nộp tại các cơ quan đầu mối tiếp nhận hồ sơ do Ủy Ban Nhân Dân phân công. Các cơ quan này sẽ tổng hợp nội dung đề nghị của doanh nghiệp, và ý kiến của các cơ quan ban ngành có liên quan để trình Ủy Ban Nhân Dân xem xét, quyết định và không được đặt ra bất cứ yêu cầu nào, điều kiện nào đối với doanh nhân và doanh nghiệp.

Thứ ba, về thủ tục và những khó khăn khi thực hiện thủ tục xin cấp thẻ ABTC, hiện nay, công tác tiếp nhận và tham mưu việc xem xét cho phép doanh nhân Việt Nam sử dụng thẻ ABTC tại Thành phố Hồ Chí Minh được Sở Kế Hoạch Và Đầu Tư, Ban Quản Lý Khu Đô Thị Nam, Ban Quản Lý Các Khu Chế Xuất Và Công Nghiệp, Ban Quản Lý Khu Công Nghệ Cao, Ban Quản Lý Khu Đô Thị Tây Bắc và Ban Quản Lý Đầu Tư – Xây Dựng Khu Đô Thị Mới Thủ Thiêm phối hợp với các cơ quan ban ngành Sở Công Thương, Công An Thành Phố, Bảo Hiểm Xã Hội, Cục Thuế, Cục Hải Quan, Sở Lao Động – Thương Binh Và Xã Hội, và các sở, ban, ngành, liên quan khác kiểm tra rà soát chặt chẽ tình hình chấp hành pháp luật của các doanh nghiệp, cá nhân đề nghị cấp thẻ ABTC, báo cáo kết quả trình Uỷ ban nhân dân xem xét, quyết định.

Do đó, doanh nghiệp cần lưu ý phải chấp hành tốt pháp luật về doanh nghiệp, đầu tư, thương mại, thuế, hải quan, lao động và bảo hiểm xã hội cũng như quy định về sử dụng thẻ ABTC, cụ thể, Công An Thành Phố sẽ yêu cầu doanh nhân Việt Nam nộp sơ yếu lý lịch và Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của doanh nghiệp mà doanh nhân Việt Nam đang làm việc, Cơ Quan Thuế, Bảo Hiểm Xã Hội, Cơ Quan Hải Quan sẽ kiểm tra và yêu cầu doanh nghiệp tuân thủ các quy định pháp luật liên quan…

Về thủ tục thì để được cấp thẻ ABTC thì phải thực hiện hai giai đoạn:

  • Giai đoạn 1: Xin văn bản chấp thuận của Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố về việc cho phép sử dụng thẻ ABTC. Doanh nghiệp sẽ nộp 02 bộ hồ sơ theo quy định đến cơ quan đầu mối tiếp nhận hồ sơ, thời gian xử lý hồ sơ theo quy định trong vòng 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, nếu hồ sơ không đủ điều kiện theo quy định sẽ bị trả lại cho doanh nghiệp sau 07 ngày làm việc. Tuy nhiên, trên thực tế thời gian này sẽ bị kéo dài lâu hơn so với quy định. Do phụ thuộc vào việc tuân thủ quy định pháp luật của doanh nghiệp mà doanh nhân Việt Nam xin cấp thẻ ABTC đang làm việc và cơ quan đầu mối tiếp nhận hồ sơ phải gửi công văn xin ý kiến của các sở, ban ngành liên quan, sau khi nhận được phản hồi đồng ý của tất cả các cơ quan này thì cơ quan đầu mối sẽ tổng hợp và trình Ủy Ban Nhân Dân xem xét, quyết định.
  • Giai đoạn 2: Xin cấp thẻ ABTC. Doanh nghiệp sẽ nộp 01 bộ hồ sơ theo quy định tại Cục Quản Lý Xuất, Nhập Cảnh – Bộ Công An. Theo quy định trong thời hạn 21 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, tuy nhiên, thời gian này phụ thuộc vào việc trả lời của các nước thành viên tham gia chương trình cấp thẻ APEC, do đó, có thể kéo dài hơn so với luật định.
Read more...

Những Lưu Ý Quan Trọng Khi Sở Hữu Bất Động Sản Và Cư Trú Lâu Dài, Định Cư Ở Nước Ngoài

CƠ SỞ PHÁP LÝ

  • Luật Quốc Tịch Việt Nam 2008 sửa đổi 2014;
  • Luật Nhà Ở 2014;
  • Nghị Định 138/2006/NĐ-CP Quy Định Chi Tiết Thi Hành Các Quy Định Của Bộ Luật Dân Sự Về Quan Hệ Dân Sự Có Yếu Tố Nước Ngoài;
  • Nghị Định 70/2014/NĐ-CP Quy Định Chi Tiết Thi Hành Một Số Điều Của Pháp Lệnh Ngoại Hối Và Pháp Lệnh Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Pháp Lệnh Ngoại Hối.

NỘI DUNG BÀI VIẾT

Bài viết giúp người đọc hiểu rõ hơn về tầm nhìn, quy định của Pháp luật Việt Nam trong việc sở hữu bất động sản nước ngoài của công dân Việt Nam. Ngoài ra, các lưu ý cho việc định cư ở nước ngoài đối với công dân Việt Nam cũng được nêu rõ nhằm giúp người đọc hiểu rõ hơn về quy định của Chính phủ Việt Nam đối với việc định cư nước ngoài của công dân Việt Nam. Bài viết gồm hai phần: (I) Các vấn đề pháp lý khi công dân Việt Nam sở hữu bất động sản ở nước ngoài và (II) Các vấn đề pháp lý khi công dân Việt Nam cư trú, định cư lâu dài ở nước ngoài.

I. Các Vấn Đề Pháp Lý Khi Công Dân Việt Nam Sở Hữu Bất Động Sản Ở Nước Ngoài

1| Quy định về quyền sở hữu của Công dân Việt Nam đối với bất động sản ở nước ngoài

Pháp luật Việt Nam không có bất kỳ quy định nào cấm sở hữu bất động sản ở nước ngoài. Nhưng hiện nay một trong những vấn đề pháp lý quan trọng để sở hữu bất động sản tại nước ngoài là làm sao để chuyển tiền ra nước ngoài để mua và sở hữu Bất động sản ở nước ngoài.

Pháp luật về ngoại hối tại Việt nam và cụ thể là khoản 2 điều 7 Nghị định 70/2014/NĐ-CP quy định việc Công dân Việt Nam có quyền thực việc chuyển tiền/ ngoại hối ra nước ngoài cho nhiều mục đích khác nhau, trong đó các điểm d, đ, e, g lần lượt là:

”d) trợ cấp cho thân nhân đang ở nước ngoài;

đ) chuyển tiền thừa kế cho người hưởng thừa kế ở nước ngoài;

e) chuyển tiền trong trường hợp định cư ở nước ngoài;

g) chuyển tiền một chiều cho các nhu cầu hợp pháp khác.”

Có thể thấy rằng, Pháp luật Việt nam không cấm việc Công dân Việt Nam chuyển tiền sở hữu bất động sản nước ngoài. Đặc biệt là ở điểm g, có thể hiểu rằng việc chuyển tiền/ngoại hối để mua nhà thuộc vào “các nhu cầu hợp pháp khác”. Nhưng vấn đề cần lưu ý ở đây là việc chuyển tiền để mua và sở hữu bất động sản ở nước ngoài phải phù hợp với các mục đích trên.

Căn cứ khoản 2 điều 7 Nghị định 70/2014/NĐ-CP quy định việc Công dân Việt Nam có quyền thực việc chuyển tiền/ ngoại hối ra nước ngoài thì tuỳ theo mục đích cụ thể mà tổ chức hoạt động ngoại hối có thể yêu cầu người thực hiện xuất trình một số giấy tờ, chứng từ đặc thù. Trường hợp cụ thể với việc định cư, tổ chức ngoại hối sẽ yêu cầu một số giấy tờ sau để thực hiện hoạt động ngoại hối:

a) Văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cho phép định cư hoặc giấy tờ chứng minh cho việc định cư ở nước ngoài (thẻ cư trú, thị thực dạng định cư, …);

b) Hộ khẩu ở Việt Nam và bản sao hộ chiếu của người đi định cư;

c) Giấy tờ chứng minh nguồn gốc số ngoại tệ cần chuyển, mang đi nước ngoài.

2| Các vấn đề cần lưu ý

Thực trạng hiện nay có những cách sau dùng để áp dụng cho việc mua bất động sản và sở hữu Bất động sản ở nước ngoài:

a) Cách thứ nhất, là hoạt động thông qua phương pháp thành lập công ty, dự án đầu tư ở nơi mà Công dân Việt Nam muốn sở hữu bất động sản ở nước ngoài. Phương pháp này được hiểu là tiến hành xin thủ tục đầu tư ra nước ngoài ở Bộ Kế hoạch và Đầu tư, sau đó dùng giấy phép đầu tư này để tiến hành chuyển tiền sang nước ngoài nhằm tiến hành mua bất động sản. Tuy nhiên, phương pháp này có một số nhược điểm là chịu sự quản lý của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Ngoài ra, hoạt động ngoại hối này chỉ được thực hiện với một tài khoản ngân hàng đã đăng ký với Ngân hàng Nhà nước và số tiền cho hoạt động ngoại hối này phải phù hợp với số vốn đầu tư theo giấy chứng nhận đầu tư được cấp. Nhưng xét về mặt bản chất pháp lý việc áp dụng cách thức này cũng không phải là cách thực phù hợp và chính xác theo quy định pháp luật.

b) Cách thứ hai, nhờ một người thân có quốc tịch ở nước muốn định cư đứng tên mua bất động sản rồi thực hiện ngoại hối dưới dạng mục đích trợ cấp cho thân nhân ở nước ngoài, chuyển tiền cho người hưởng thừa kế ở nước ngoài rồi sử dụng tiền đó để mua bất động sản. Cách này có nhược điểm là phụ thuộc vào thân nhân ở nước ngoài và đôi lúc không phải ai cũng có thể đáp ứng các điều kiện này.

Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng pháp luật Việt Nam chỉ điều chỉnh đối với các vấn đề trong nước. Đối với việc sở hữu bất động sản ở nước ngoài, Pháp Luật Việt Nam không cấm cũng không ủng hộ và không bảo hộ đối với vấn đề trên. Ngoài ra, việc mua bất động sản ở nước ngoài còn phụ thuộc vào pháp luật nước sở tại nơi Công dân Việt Nam có nhu cầu mua bất động sản.

II. Liên Quan Đến Việc Công Dân Việt Nam Cư Trú Và Định Cư Lâu Dài Ở Nước Ngoài

1| Việc cư trú và định cư lâu dài được pháp luật quy định như thế nào?

Hiện theo các quy định của Pháp luật Việt Nam liên quan đến Quốc Tịch và Cư trú thì việc một Công dân Việt Nam cư trú và định cư lâu dài ở nước ngoài là không bị pháp luật cấm nhưng cần tuân thủ các quy định của pháp luật liên quan về vấn đề cư trú và Quốc Tịch.

Theo quy định tại khoản 3 điều 3 Nghị định 138/2006/NĐ-CP, “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài” là người có quốc tịch Việt Nam và người gốc Việt Nam đang cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.” Và khoản 1 điều 27 Luật quốc tịch Việt Nam 2008, “Công dân Việt Nam có đơn xin thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài thì có thể được thôi quốc tịch Việt Nam”.

Có thể hiểu rằng việc định cư không làm mất quốc tịch Việt Nam của công dân Việt Nam. Nếu Công dân Việt Nam định cư và có nhu cầu nhập quốc tịch nước ngoài nơi đang định cư thì mới tiến hành thủ tục thôi quốc tịch Việt Nam và nhập quốc tịch nước sở tại Công dân đó đang cư trú.

Để tiến hành cư trú và định cư lâu dài ở nước ngoài thì cần hồ sơ gồm:

  • Hộ chiếu;
  • Thị thực theo dạng định cư;
  • Giấy mời nhập cảnh nước sở tại.

Lưu rằng hồ sơ trên là hồ sơ yêu cầu cơ bản, tuỳ vào tình hình thực tế và yêu cầu của lãnh sự quán nước sở tại nơi Công dân Việt Nam muốn cư trú mà hồ sơ yêu cầu có thể khác đi hoặc yêu cầu thêm thành phần các tài liệu cụ thể khác.

2| Các vấn đề cần lưu ý

Khi Công dân Việt Nam cư trú và đinh cư ở nước ngoài ngoài việc tuân thủ pháp luật Việt Nam theo nguyên tắc Quốc tịch thì cần tuân thủ các quy định tại quốc gia mà Công dân Việt Nam cư trú và định cư.

Theo điều 4 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008, Chính phủ Việt Nam chỉ công nhận Công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam. Pháp luật hiện hành không quy định việc Công dân Việt Nam có hai quốc tịch là hành vi bị cấm mà chỉ là không thừa nhận, vậy nên, tuỳ vào tình hình thực tiễn của nước sở tại mà Công dân nên xem xét việc có nên duy trì song tịch hay không.

Công dân Việt Nam cư trú, định cư ở nước ngoài không trực tiếp làm mất quốc tịch Việt Nam của Công dân đó. Quốc tịch Việt Nam chỉ mất trong trường hợp Công dân Việt Nam đó tiến hành thủ tục thôi quốc tịch Việt Nam (chủ động) hoặc bị tước quốc tịch Việt Nam (bị động). Tuy nhiên, không phải tất cả các Công dân Việt Nam đều có thể tiến hành thủ tục thôi quốc tịch Việt Nam. Những trường hợp sau đây không được phép thực hiện thủ tục thôi quốc tịch Việt Nam theo khoản 2, khoản 3 và khoản 4 điều 27 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008:

2. Người xin thôi quốc tịch Việt Nam chưa được thôi quốc tịch Việt Nam, nếu thuộc một trong những trường hợp sau:

  • đang nợ thuế đối với Nhà nước hoặc đang có nghĩa vụ tài sản đối với cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân ở Việt Nam;
  • đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự;
  • đang chấp hành bản án, quyết định của Toà án Việt Nam;
  • đang bị tạm giam để chờ thi hành án;
  • đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, trường giáo dưỡng.

3. Người xin thôi quốc tịch Việt Nam không được thôi quốc tịch Việt Nam, nếu điều đó làm hại đến lợi ích của Việt Nam.

4. Cán bộ, công chức và những người đang phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam không được thôi quốc tịch Việt Nam.

Tóm lại, Chính phủ Việt Nam không cấm đối với các hành vi sở hữu bất động sản hay cư trú, định cư lâu dài ở nước ngoài. Tuy nhiên trong từng trường hợp cụ thể việc xác định các phương án để thực hiện các nhu cầu này là tương đối phức tạp vì liên quan đến pháp luật của không chỉ là Pháp luật Việt Nam mà còn là pháp luật của Quốc Gia nơi mà Công dân Việt Nam dự định thực hiện việc sở hữu bất động sản hay cư trú và đinh cư.

Mong rằng bài viết đã cung cấp cho độc giả kiến thức và cái nhìn cơ bản nhất trong vấn đề sở hữu bất động sản và cư trú, định cư lâu dài ở nước ngoài dưới tư cách là Công dân Việt Nam. Mọi thắc mắc xin vui lòng liên hệ Apolat Legal để được giải đáp và tư vấn rõ ràng hơn.

Read more...

Góp Vốn Thành Lập Công Ty Bằng Cổ Phần, Phần Vốn Góp

Theo xu thế phát triển, việc thành lập công ty ngày càng trở nên đơn giản, chủ sở hữu chỉ cần cung cấp bản sao y chứng minh nhân dân/hộ chiếu và điền vào một số hồ sơ mẫu là có thể thành lập được doanh nghiệp. Nhưng ngược lại, khi xem xét từng vấn đề pháp lý với sự nghiên cứu một cách nghiêm túc, doanh nghiệp phải tuân thủ nhiều quy định pháp luật khác nhau.

Theo quy định tại Điều 35 Luật Doanh Nghiệp 2014, cổ đông/thành viên góp vốn có thể thoả thuận tài sản góp vốn để thành lập công ty là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam. Các tài sản khác có thể được định giá bằng tiền có thể là một phần hoặc toàn bộ cổ phần/phần vốn góp mà các cổ đông/thành viên góp vốn đang sở hữu tại một công ty khác. Khi thực hiện góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng cổ phần/ phần vốn góp, doanh nghiệp cần phải lưu ý những vấn đề sau:

1| Cổ đông/thành viên góp vốn phải có được sự chấp thuận của các cổ đông/thành viên góp vốn khác về việc sử dụng phần vốn góp của mình để góp vốn vào doanh nghiệp khác. Cụ thể như sau:

  • Tài sản góp vốn là cổ phần trong Công ty Cổ Phần: mặc dù Luật Doanh Nghiệp 2014 chưa quy định điều kiện để cổ đông sử dụng cổ phần của mình để góp vốn vào doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, có thể hiểu rằng, hoạt động này được xem như việc chuyển nhượng cổ phần và phải tuân thủ theo quy định tại Điều 126 Luật Doanh Nghiệp 2014. Cụ thể như sau:

Cổ đông được quyền tự do sử dụng cổ phần của mình để góp vốn thành lập doanh nghiệp khác mà không cần có sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 của Luật Doanh Nghiệp 2014 và Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần.

Khoản 3 Điều 119 của Luật Doanh Nghiệp 2014 quy định trong thời hạn 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập chỉ được phép sử dụng cổ phần của mình để góp vốn thành lập doanh nghiệp khác nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Trường hợp này, cổ đông dự định sử dụng cổ phần để góp vốn thành lập doanh nghiệp khác không có quyền biểu quyết về việc này. Xin lưu ý rằng, hạn chế này không áp dụng đối với cổ phần mà cổ đông sáng lập có thêm sau khi đăng ký thành lập doanh nghiệp và cổ phần mà cổ đông sáng lập chuyển nhượng cho người khác không phải là cổ đông sáng lập của công ty.

Tài sản góp vốn là phần vốn góp trong Công ty TNHH: tương tự như trên, Luật Doanh Nghiệp 2014 chưa có quy định về việc thành viên góp vốn sử dụng phần vốn góp của mình để góp vốn thành lập doanh nghiệp khác. Việc áp dụng theo quy định tại Điều 53 Luật Doanh Nghiệp 2014 cho trường hợp này là chưa phù hợp, cụ thể là thành viên góp vốn phải chào bán phần vốn góp của mình cho những thành viên góp vốn khác và nếu những thành viên khác không mua thì mới được chuyển nhượng cho người khác với cùng một điều kiện. Do đó, để đảm bảo về mặt pháp lý, việc góp vốn thành lập doanh nghiệp khác bằng phần vốn góp này cần phải có sự chấp thuận của Hội đồng thành viên và thành viên sử dụng phần vốn góp để góp vốn không được biểu quyết.

2| Kết quả của việc góp vốn này là doanh nghiệp mới thành lập sẽ là chủ sở hữu của cổ phần/phần vốn góp mà các cổ đông/thành viên góp vốn của doanh nghiệp mới thành lập sử dụng để góp vốn vào doanh nghiệp. Xin lưu ý rằng, hoạt động góp vốn bằng cổ phần/phần vốn góp không tạo ra việc sở hữu vốn chéo trong các doanh nghiệp.

3| Trong vòng 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông/thành viên góp vốn phải hoàn tất việc góp vốn vào doanh nghiệp mới thành lập. Việc góp vốn được hoàn tất khi:

  • Tài sản góp vốn là cổ phần trong Công ty Cổ Phần: doanh nghiệp mới thành lập được ghi nhận là chủ sở hữu cổ phần trong Sổ Đăng Ký Cổ Đông của doanh nghiệp có cổ phần được sử dụng để góp vốp;
  • Tài sản góp vốn là phần vốn góp trong Công ty TNHH: doanh nghiệp mới thành lập được ghi nhận là thành viên góp vốn trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của doanh nghiệp có phần vốn góp được sử dụng để góp vốn.

4| Định giá tài sản: Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí hoặc do một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá. Trường hợp tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được đa số các thành viên, cổ đông sáng lập chấp thuận. Trường hợp tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế.

Một số vấn đề pháp lý về việc góp vốn bằng cổ phần/phần vốn góp chưa được quy định rõ ràng trong Luật Doanh Nghiệp 2014 hay các văn bản quy định pháp luật khác như phân tích ở trên, gây khó khăn cho cổ đông/thành viên góp vốn thực hiện quyền sở hữu của mình.

Read more...