Trang chủ

Giao dịch đáng chú ý gần đây

Apolat Legal đã tư vấn nhiều giao dịch định hình thị trường trên một loạt các ngành công nghiệp trong lĩnh vực năng lượng, thương mại điện tử, công nghệ, bán lẻ, hậu cần, bất động sản, …

Xem thêm

Sáp nhập và đầu tư

  • Đầu tư nước ngoài
  • Tuân thủ pháp luật
  • Mua bán & Sáp nhập
  • Chi tiết

Thương mại trong và ngoài nước

  • Thương mại quốc tế
  • Mua bán
  • Phân phối
  • Chi tiết

Giải quyết tranh chấp

Lao động

  • Lao động quốc tế
  • Phúc lợi
  • Quản lý nhân sự
  • Chi tiết

Sở hữu trí tuệ

  • Nhượng quyền thương mại
  • Nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp
  • Bản quyền và bằng sáng chế
  • Chi tiết

Bất động sản

  • Bất động sản
  • Cơ sở hạ tầng
  • Giao dịch thuê
  • Chi tiết

Chúng tôi luôn tin rằng

Tại Apolat Legal, sự đa dạng, hòa nhập và bình đẳng là một phần trong cách sống và giá trị của chúng tôi.

Chúng tôi áp dụng các giá trị vào tất cả các hoạt động của chúng tôi trên toàn cầu. Các giá trị đó phản ánh văn hóa và tính cách của chúng tôi cả bên trong lẫn bên ngoài, cách chúng tôi làm việc và những gì chúng tôi đại diện. 

Tầm nhìn của chúng tôi

Chính trực, Thấu hiểu và Không ngừng đổi mới

Chúng tôi trong thập kỷ tới là đối tác pháp lý hàng đầu của các doanh nghiệp tầm trung với các cam kết về sự chính trực, thấu hiểu và không ngừng đổi mới. Đây sẽ là bước đệm cho tương lai dẫn đầu thị trường pháp lý tại Việt Nam.

Khách hàng của chúng tôi

Tận tâm và Chuyên nghiệp

Đồng đội của chúng tôi

Đoàn kết, Đa dạng, Hỗ trợ và Tin tưởng

Môi trường làm việc của chúng tôi

Cởi mở và Tôn trọng sự khác biệt

Công việc của chúng tôi

Tập trung, Quyết tâm, Tham vọng

Cộng đồng xung quanh chúng tôi

Trách nhiệm và Tôn trọng sự đa dạng

Cập nhật mới nhất

TIN TỨC VÀ CẬP NHẬT PHÁP LÝ

[Tin tức] Apolat Legal tham gia Tọa đàm góp ý về học kỳ doanh nghiệp khoa Luật – Đại học Kinh tế TpHCM

Vào sáng ngày 25/11/2020, tại Đại học Kinh Tế TpHCM, với sự chủ trì của TS. Dương Kim Thế Nguyên, Khoa Luật đã tổ chức tọa đàm với hai phiên:

  • Tổng kết và thảo luận về hiệu quả của học kỳ doanh nghiệp vừa triển khai
  • Góp ý của các bên liên quan về các chương trình đào tạo của Khoa Luật.

Apolat Legal vui mừng khi trở thành điểm đến đáng tin cậy của nhà trường trong việc hỗ trợ sinh viên hoàn thành học kỳ doanh nghiệp và mang lại trải nghiệm nghề nghiệp đúng nghĩa.

Một số hình ảnh tại Tọa đàm:

Tọa đàm diễn ra với sự góp mặt của các cựu sinh viên, Thạc sĩ, công ty Luật

Luật sư Phạm Thị Thoa phát biểu tại Tọa đàm

Thỏa thuận được ký giữa đại diện Apolat Legal và Khoa Luật UEH

 

Read more...

[Cập nhật pháp lý] Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 89/2020/TT-BTC nhằm sửa đổi một số Thông tư về kinh doanh bảo hiểm

1. Bộ Tài chính ban hành Thông tư để sửa đổi một số quy định về kinh doanh bảo hiểm

Vào ngày 11/11/2020, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 89/2020/TT-BTC để sửa đổi, bãi bỏ nội dung một số Thông tư về kinh doanh bảo hiểm.

Cụ thể, Thông tư 89/2020/TT-BTC sửa đổi, bổ sung nội dung về Phạm vi điều chỉnh, Đối tượng áp dụng, và Trách nhiệm lập và gửi báo cáo của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm tại Thông tư 50/2017/TT-BTC ngày 15/5/2017.

Một số nội dung đáng chú ý khác gồm:

  • Sửa đổi, bổ sung nội dung về Nghĩa vụ báo cáo của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm được quy định tại Điều 19 Thông tư 105/2016/TT-BTC ngày 29/6/2016.
  • Sửa đổi, bổ sung nội dung hướng dẫn báo cáo kết quả đánh giá, xếp loại doanh nghiệp bảo hiểm quy định tại Điều 7 Thông tư 195/2014/TT-BTC ngày 17/12/2014.
  • Sửa đổi, bổ sung nội dung hướng dẫn thực hiện báo cáo hàng quý, hàng năm tình hình hỗ trợ kinh phí bảo hiểm khai thác hải sản, bảo hiểm tai nạn thuyền viên, triển khai bảo hiểm thân tàu, trang thiết bị, ngư lưới tại Thông tư 115/2014/TT-BTC ngày 20/8/2014.

Đồng thời bãi bỏ các Thông tư số 116/2014/TT-BTC ngày 20/8/2014 và Thông tư số 43/2016/TT-BTC ngày 03/3/2016.

Thông tư 89/2020/TT-BTC có hiệu lực thi hành từ ngày 26/12/2020.

2. Chính phủ ban hành Nghị định mới sửa đổi quy định về tiêu chuẩn, điều kiện của đơn vị có lợi ích công chúng

Theo quy định hiện hành, Đơn vị có lợi ích công chúng thuộc lĩnh vực chứng khoán bao gồm Công ty đại chúng quy mô, tổ chức niêm yết, tổ chức phát hành chứng khoán ra công chúng, công ty chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán, quỹ và các công ty quản lý quỹ.

Nghị định số 134/2020/NĐ-CP ngày 15/11/2020 sửa đổi, bổ sung các Đơn vị có lợi ích công chúng, bao gồm Công ty đại chúng, Tổ chức niêm yết, Tổ chức đăng ký giao dịch, Tổ chức chào bán chứng khoán ra công chúng, Công ty chứng khoán, Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, Công ty đầu tư chứng khoán, Quỹ đầu tư chứng khoán. Đơn vị có lợi ích công chúng khác là các đơn vị có lợi ích công chúng quy định tại Điều 53 của Luật Kiểm toán độc lập.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021.

3. Hai trường hợp được xác nhận công ty đại chúng kể từ ngày 01/01/2021

Theo quy định tại Luật Chứng khoán 2020 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2021, công ty đại chúng là công ty cổ phần thuộc một trong hai trường hợp sau đây:

Trường hợp 1: Công ty cổ phần có vốn điều lệ đã góp từ 30 tỷ đồng trở lên và có tối thiểu là 10% số cổ phiếu có quyền biểu quyết do ít nhất 100 nhà đầu tư không phải là cổ đông lớn nắm giữ.

Công ty cổ phần thuộc Trường hợp này phải nộp hồ sơ đăng ký công ty đại chúng cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày công ty hoàn thành việc góp vốn và có cơ cấu cổ đông đáp ứng yêu cầu trên.

Trường hợp 2: Công ty cổ phần đã thực hiện chào bán thành công cổ phiếu lần đầu ra công chúng thông qua đăng ký với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo quy định.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký công ty đại chúng đầy đủ và hợp lệ (đối với Trường hợp 1) hoặc nhận được báo cáo kết quả hoàn thành đợt chào bán của công ty cổ phần (đối với Trường hợp 2), Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có trách nhiệm xác nhận hoàn tất việc đăng ký công ty đại chúng, đồng thời công bố tên, nội dung kinh doanh và các thông tin khác liên quan đến công ty đại chúng trên phương tiện công bố thông tin của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.

Tải Cập nhật pháp lý tại đây.

Read more...

[Cập nhật pháp lý] Chính phủ siết chặt hơn các giao dịch giữa các doanh nghiệp có quan hệ liên kết

1. Chính phủ siết chặt hơn các giao dịch giữa các doanh nghiệp có quan hệ liên kết 

Vào ngày 05/11/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 132/2020/NĐ-CP quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết thay thế cho Nghị định số 20/2017/NĐ-CP. Nghị định đã làm rõ các nguyên tắc phân tích, so sánh, lựa chọn đối tượng so sánh độc lập và các phương pháp xác định giá giao dịch liên kết.

Các giao dịch liên kết là các giao dịch mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng hàng hóa, cung cấp dịch vụ; vay, cho vay, dịch vụ tài chính, đảm bảo tài chính và các công cụ tài chính khác; mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng tài sản hữu hình, tài sản vô hình và thỏa thuận mua, bán, sử dụng chung nguồn lực như tài sản, vốn, lao động, chia sẻ chi phí giữa các bên có quan hệ liên kết, trừ các giao dịch kinh doanh đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc phạm vi điều chỉnh giá của Nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật về giá.

Bên cạnh đó, Nghị định bổ sung thêm các đối tượng sau được xem là các bên liên kết:

  • Hai doanh nghiệp được điều hành hoặc chịu sự kiểm soát về nhân sự, tài chính và hoạt động kinh doanh bởi các cá nhân thuộc một trong các mối quan hệ: vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột;
  • Doanh nghiệp có phát sinh các giao dịch nhượng, nhận chuyển nhượng vốn góp ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp trong kỳ tính thuế; vay, cho vay ít nhất 10% vốn góp của chủ sở hữu tại thời điểm phát sinh giao dịch trong kỳ tính thuế với cá nhân điều hành, kiểm soát doanh nghiệp hoặc với cá nhân thuộc trong một các mối quan hệ theo quy định trên.

Các chi phí của giao dịch liên kết không phù hợp với bản chất giao dịch độc lập hoặc không góp phần tạo ra doanh thu, thu nhập cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế không được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp trong kỳ.

Như vậy, các giao dịch của các bên liên kết, điển hình là các công ty mẹ, con cần xem xét các giao dịch hiện tại và thận trọng hơn trong các giao dịch trong tương lai để tránh trường hợp không được khấu trừ chi phí và tăng nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp phải đóng hàng năm.

Nghị định số 132/2020/NĐ-CP ngày 05/11/2020 có hiệu lực kể từ ngày 20/12/2020 và áp dụng từ kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2020. 

2. Quyết định của Bộ Giao thông vận tải về khuyến khích dịch vụ logistics trong lĩnh vực hàng hải 

Quyết định 2094/QĐ-BGTVT của Bộ Giao Thông Vận Tải vừa được ban hành yêu cầu chú trọng phát triển dịch vụ logistics trong lĩnh vực hàng hải Việt Nam như sau:

– Hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư các cảng cạn theo quy hoạch được duyệt, tăng chất lượng dịch vụ logistics;

– Phối hợp với các bộ, địa phương liên quan trong việc hoàn thiện cơ chế, chính sách về đất đai phục vụ phát triển dịch vụ logistics và kiến nghị ưu tiên bố trí đủ quỹ đất cho các khu vực dịch vụ logistics sau cảng;

– Phối hợp với các cơ quan liên quan trong việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của dịch vụ logistics; cơ chế, chính sách tài chính đáp ứng nhu cầu phát triển dịch vụ logistics; và

– Triển khai hệ thống EDI – Hệ thống xử lý điện tử các thủ tục hành chính như: Thủ tục xin phép liên quan đến cảng (thông báo tàu đến/đi, thông báo sử dụng trang thiết bị neo đậu…) và hệ thống giao dịch điện tử tại cảng biển.

Quyết định có có hiệu lực kể từ ngày 06/11/2020.

3. Nghị Định mới yêu cầu bệnh viện tư nhân hạng I phải tổ chức hoạt động dược lâm sàng

Đây là nội dung tại Nghị định 131/2020/NĐ-CP quy định về tổ chức, hoạt động dược lâm sàng của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Theo đó, từ ngày 01/01/2021, cơ sở khám, chữa bệnh sau phải tổ chức hoạt động dược lâm sàng:

–  Cơ sở khám, chữa bệnh tư nhân được xếp hạng tương đương với bệnh viện hạng I.

–  Bệnh viện, Viện có giường bệnh (gọi tắt là bệnh viện) gồm bệnh viện đa khoa, chuyên khoa từ hạng I trở lên trực thuộc Bộ Y tế, Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và các bộ, ngành khác được Bộ Y tế giao nhiệm vụ là tuyến cuối về chuyên môn kỹ thuật;

Nghị định 131/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021.    

Tải Cập nhật pháp lý tại đây.

Read more...

BÀI VIẾT

Mua bán nhà ở/căn hộ, đất tái định cư và rủi ro pháp lý?

Trong quá trình phát triển kinh tế, thay đổi về quy hoạch sử dụng đất, các khu vực đất nông thôn, đất nông nghiệp, rừng trồng được thay thế bằng các khu công nghiệp, cơ sở hạ tầng giao thông, trung tâm thương mại, đô thị mới, …. Mỗi dự án được triển khai kèm theo đó là vấn đề an sinh xã hội được đặt ra, theo đó khi thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư, chủ đầu tư và chính quyền phải thực hiện các phương án đền bù tái định cư (“Nhà, Đất Tái Định Cư”) cho người dân.’

Quá trình đền bù Nhà, Đất Tái Định Cư chỉ được xem là hoàn tất khi người được hưởng suất tái định cư là đất ở được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở/căn hộ (“Giấy chứng nhận”). Tuy nhiên, thủ tục pháp lý để cấp Giấy chứng nhận nêu trên là “nhiêu khê”, phức tạp và thường bị kéo dài nhiều năm liền trên thực tế. Trong thời gian đó, bên được hưởng suất Nhà, Đất Tái Định Cư có nhu cầu chuyển nhượng để thu hồi nhanh chóng khoản tiền bồi thường. Mặc khác, một số người lại tìm thấy được cơ hội và sẵn sàng chấp nhận tiến hành thay các thủ tục cần thiết cấp Giấy chứng nhận để sở hữu Nhà, Đất Tái Định Cư. Trong khi người được hưởng suất Nhà, Đất Tái Định Cư sở hữu toàn bộ hoặc chỉ một trong các loại giấy tờ như: Biên bản họp xét tái định cư cho các hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi, Biên bản bốc thăm nền tái định cư, Biên bản bàn giao nền tái định cư ngoài thực địa, Quyết định về việc giao nền tái định cư thì các bên hoặc Biên bản bốc thăm nhà ở/căn hộ tái định cư, hợp đồng mua bán nhà ở/căn hộ tái định cư (“ Bên Chuyển Nhượng”, “Bên Nhận Chuyển Nhượng”) sẵn sàng tiến hành giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển nhượng nhà ở/căn hộ tái định cư. Thông thường, các bên sẽ thực hiện giao kết thông qua hai loại hợp đồng tồn tại song song, gồm: Hợp đồng mua bán  Nhà/Căn Hộ, Đất Tái Định Cư có nội dung tương tự Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở/căn hộ (không công chứng, chứng thực do chưa được cấp Giấy chứng nhận) (“Hợp Đồng Mua Bán Nhà, Đất”), đồng thời Hợp đồng uỷ quyền được ký kết với nội dung Bên Nhận Chuyển Nhượng được toàn quyền thay mặt, nhân danh và đại diện Bên Chuyển Nhượng quyết định, thực hiện tất cả các vấn đề liên quan đến việc cấp Giấy chứng nhận, chiếm hữu, quản lý, sử dụng và định đoạt Nhà Ở/Căn Hộ, Đất Tái Định Cư với thời hạn thường được kéo dài tùy vào tiến độ còn lại của việc cấp Giấy chứng nhận (“Hợp Đồng Ủy Quyền”). Tùy từng trường hợp, Bên Nhận Chuyển Nhượng có thể thanh toán 100% giá trị Đất Tái Định Cư hoặc giữ lại từ 5 – 10% giá trị Đất Tái Định Cư để đảm bảo rằng Bên Chuyển Nhượng sẽ ký  Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở/căn hộ (“Hợp Đồng Chuyển Nhượng QSDĐ, QSHNO”) sau khi có Giấy chứng nhận, đối với trường hợp Nhà Ở/Căn Hộ hình thành trong tương lai thì khi đủ các điều kiện chuyển nhượng theo Luật Nhà Ở.

Khi hoàn tất các giao dịch trên, các bên “ngầm” hiểu với nhau rằng việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với Nhà Ở/Căn Hộ, Đất Tái Định Cư chưa được cấp Giấy chứng nhận đã được hoàn tất. Bên Nhận Chuyển Nhượng mặc nhiên được sử dụng, tôn tạo, xây dựng, cư trú hoặc sử dụng với mục đích khác đối với Nhà Ở/Căn Hộ, Đất Tái Định Cư.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra rằng, các giao dịch chuyển nhượng Nhà Ở/Căn Hộ, Đất Tái Định Cư khi chưa được cấp Giấy chứng nhận như nêu trên có hiệu lực và những rủi ro pháp lý tiềm ẩn?

Về nguyên tắc, người sử dụng đất chỉ được chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi đất đai đã được cấp Giấy chứng nhận và người sở hữu Nhà Ở/Căn Hộ tái định cư cũng chỉ được chuyển nhượng khi Nhà Ở/Căn Hộ được cấp Giấy chứng nhận.[1] Đồng thời, các bên phải thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu Nhà Ở/Căn Hộ thông qua hợp đồng.[2] Hợp Đồng Chuyển Nhượng QSDĐ, QSHNO phải được công chứng hoặc chứng thực tại các văn phòng công chứng có thẩm quyền theo quy định pháp luật.[3]

Do đó, vào thời điểm các bên thực hiện giao dịch, Nhà Ở/Căn Hộ, Đất Tái Định Cư chưa được cấp Giấy chứng nhận nên được xem là không đáp ứng các điều kiện để chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở theo quy định của pháp luật. Vì vậy, Hợp Đồng Mua Bán Nhà, Đất có khả năng bị tuyên vô hiệu bởi Tòa án do vi phạm điều cấm của pháp luật (chuyển nhượng đối tượng không được quyền chuyển nhượng theo luật đất đai) khi xảy ra tranh chấp.[4] Hậu quả pháp lý của việc Hợp Đồng Mua Bán bị vô hiệu là không có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả và bên có lỗi phải bồi thường thiệt hại. [5] Nói cách khác, Nhà Ở/Căn Hộ, Đất Tái Định Cư vẫn thuộc quyền sở hữu của Bên Chuyển Nhượng và Bên Nhận Chuyển Nhượng sẽ được Bên Chuyển Nhượng hoàn trả lại khoản tiền đã nhận và các chi phí mà Bên Nhận Chuyển Nhượng đã chi trả. Ngoài ra, liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên có lỗi thì Tòa án sẽ là cơ quan có thẩm quyền xem xét mức độ lỗi của các bên để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi.Phương thức xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại dựa trên hướng dẫn tại điểm b.1, Khoản 2.4 Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP, cụ thể như sau: “Nếu các bên đều có lỗi tương đương nhau làm cho hợp đồng mua bán nhà ở vô hiệu, thì mỗi bên chịu trách nhiệm 1/2 giá trị thiệt hại; nếu mức độ lỗi của họ không tương đương nhau, thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định theo mức độ lỗi của mỗi bên.” Như vậy, nếu các bên có lỗi tương đương nhau để làm Hợp Đồng Mua Bán Nhà, Đất bị vô hiệu thì mỗi bên chịu trách nhiệm ngang nhau đối với giá trị thiệt hại. Nếu mức độ lỗi của các bên là chênh lệch thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định theo mức độ lỗi của mỗi bên.

Bên cạnh đó, mặc dù Nhà Ở/Căn Hộ, Đất Tái Định Cư thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Bên Nhận Chuyển Nhượng theo Hợp Đồng Mua Bán Nhà, Đất, Hợp Đồng Ủy Quyền nhưng Nhà nước lại công nhận và cấp Giấy chứng nhận cho Bên Chuyển Nhượng (người được hưởng suất Nhà Ở/Căn Hộ, Đất Tái Định Cư). Do đó, Bên Nhận Chuyển Nhượng sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận tại cơ quan nhà nước. Hơn nữa, sau khi Đất Tái Định Cư được cấp Giấy chứng nhận thì vẫn có khả năng Bên Chuyển Nhượng gây khó khăn và “đòi hỏi” thêm nhiều lợi ích khác mới chấp thuận ký Hợp Đồng Chuyển Nhượng QSDĐ, QSHNO tại phòng công chứng để Bên Nhận Chuyển Nhượng tiến hành thủ tục cập nhật, sang tên.

Ngoài ra, Bên Nhận Chuyển Nhượng còn đối mặt với rủi ro Hợp Đồng Ủy Quyền bị chấm dứt hiệu lực do rơi vào các trường hợp đương nhiên chấm dứt như Bên Chuyển Nhượng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự. Khi đó, Nhà Ở/Căn Hộ, Đất Tái Định Cư thuộc quyền quản lý của người giám hộ và/hoặc thuộc quyền sở hữu của người thừa kế của Bên Chuyển Nhượng.

Trong một số trường hợp khác, do thời gian thực hiện cấp Giấy chứng nhận kéo dài dẫn đến sự thay đổi của chính sách pháp luật. Điều này có thể dẫn đến việc phát sinh nhiều loại chi phí lớn hoặc thực hiện nhiều hơn phần công việc đã thỏa thuận ban đầu giữa các bên nhưng Bên Chuyển Nhượng không chấp nhận chia sẻ.

Từ những phân tích nêu trên, việc chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng Nhà Ở/Căn Hộ, Đất Tái Định Cư chưa được cấp Giấy chứng nhận bởi cơ quan có thẩm quyền là không hợp pháp và tiềm ẩn rất nhiều rủi ro pháp lý, đặc biệt đối với bên nhận chuyển nhượng. Do đó, để hạn chế những thiệt hại không đáng có, bạn hãy cân nhắc trước khi tiến hành các giao dịch liên quan đến chuyển nhượng quyền sử dụng Đất Tái Định Cư.

[1] Điểm a, khoản 1, Điều 188 Luật Đất đai 2013: “Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây: a) Có Giấy chứng nhận,…”.

[2] Khoản 1, Điều 502 Bộ luật Dân sự 2015.

[3] Điểm a, khoản 3, Điều 167 Luật Đất đai 2013.

[4] Giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi chưa đủ điều kiện về chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 188, Luật Đất đai 2013 không được pháp luật công nhận, hay nói cách khác là bị vô hiệu theo quy định pháp luật tại Điều 123, Bộ luật Dân sự 2015: “Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu. Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.”.

[5] Điều 131, Bộ luật Dân sự 2015.

Read more...

Để trở thành doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cần lưu ý gì?

Hậu Covid-19 và trong bối cảnh chiến tranh thương mại đang leo thang ngày càng căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc, cũng như việc ký kết hiệp định EVFTA giữa Việt Nam và Liên Minh Châu Âu “EU”, Việt Nam dự kiến sẽ trở thành “miền đất hứa” thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Theo báo cáo của Cục đầu tư nước ngoài, tính đến ngày 20/05/2020 tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 13,89 tỷ USD – một con số có thể đánh giá là rất tốt trong tình hình khó khăn của nền kinh tế thế giới hiện tại. Để nhanh chóng tiếp cận được thị trường Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài thường lựa chọn thực hiện những giao dịch M&A đối với các doanh nghiệp Việt Nam (“Công Ty Mục Tiêu”). Qua đó, nhà đầu tư nước ngoài có thể sở hữu toàn bộ hoặc một phần cổ phần/phần vốn góp để có quyền chi phối hoạt động của Công Ty Mục Tiêu. Kết quả là Công Ty Mục Tiêu trở thành doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Do đó, bài viết này cung cấp một số vấn đề pháp lý mà các nhà đầu tư nước ngoài cần quan tâm khi thực hiện giao dịch M&A.

Thứ nhất, về ngành nghề kinh doanh của Công Ty Mục Tiêu. Khi Công Ty Mục Tiêu vẫn còn do các tổ chức và/hoặc cá nhân Việt Nam làm chủ sở hữu thì ngành nghề kinh doanh không bị hạn chế trừ những ngành nghề kinh doanh có điều kiện phải đáp ứng hay bị cấm kinh doanh. Tuy nhiên, khi nhà đầu tư nước ngoài thực hiện giao dịch M&A để sở hữu cổ phần/phần vốn góp tại Công Ty Mục Tiêu cần lưu ý đối với các ngành nghề kinh doanh của Công Ty Mục Tiêu chưa được Chính phủ Việt Nam cam kết mở cửa thị trường cho các nhà đầu tư nước ngoài hoặc có cam kết trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên nhưng hạn chế tỷ lệ vốn của nhà đầu tư nước ngoài.

  • Trong trường hợp Công Ty Mục Tiêu có các ngành nghề kinh doanh chưa được Việt Nam cam kết mở cửa thị trường trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, khi nhà đầu tư nước ngoài và Công Ty Mục Tiêu thực hiện thủ tục đăng ký góp vốn/mua cổ phần/mua phần vốn góp, Sở Kế hoạch và Đầu tư nơi Công Ty Mục Tiêu đặt trụ sở sẽ hỏi ý kiến của các Bộ quản lý chuyên ngành, dẫn đến việc kéo dài thời gian thực hiện thủ tục hành chính và nhà đầu tư nước ngoài sẽ không thể thực hiện giao dịch nếu các Bộ quản lý chuyên ngành có ý kiến từ chối. Ví dụ như đối với dịch vụ sửa chữa container, hiện Việt Nam vẫn chưa cam kết mở cửa thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, do đó, khi Công Ty Mục Tiêu tiến hành thủ tục đăng ký góp vốn/mua cổ phần/phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài thì cần phải lấy ý kiến của các Bộ quản lý chuyên ngành bao gồm Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giao Thông Vận Tải, và Bộ Công Thương.
  • Đối với trường hợp Công Ty Mục Tiêu có ngành nghề kinh doanh đã được Việt Nam cam kết mở cửa thị trường cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện nhưng có hạn chế về tỷ lệ sở hữu vốn thì tỷ lệ vốn mà nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu trong Công Ty Mục Tiêu sẽ không được vượt quá mức tối đa mà Việt Nam đã cam kết. Ví dụ đối với vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội địa, trong biểu cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO, tỷ lệ sở hữu vốn của nhà đầu tư nước ngoài không được vượt quá 49%. Vì vậy, nhà đầu tư nước ngoài chỉ có thể sở hữu tối đa 49% vốn tại Công Ty Mục Tiêu trong trường hợp này.

Thứ hai, nếu sau khi giao dịch M&A kết thúc, mà nhà đầu tư nước ngoài sở hữu từ 51% vốn điều lệ của Công Ty Mục Tiêu, thì các công ty do Công Ty Mục Tiêu nắm giữ vốn điều lệ sẽ phải đáp ứng điều kiện và thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài trong trường hợp (i) Công Ty Mục Tiêu nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên; hoặc (ii) Có nhà đầu tư nước ngoài và Công Ty Mục Tiêu nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên. Lấy ví dụ đối với hoạt động phân phối bán lẻ hàng hóa, các công ty do Công Ty Mục Tiêu nắm giữ vốn điều lệ thuộc các trường hợp được nêu sẽ phải thực hiện thủ tục xin cấp giấy phép kinh doanh và thủ tục thành lập cơ sở bán lẻ tương tự với điều kiện mà các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải đáp ứng.

Trong trường hợp tỉ lệ sở hữu phần vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài trong Công Ty Mục Tiêu dưới 51% thì các công ty do Công Ty Mục Tiêu nắm giữ vốn điều lệ được thực hiện các điều kiện và thủ tục đầu tư theo quy định đối với nhà đầu tư trong nước.

Thứ ba, về quyền sử dụng đất của Công Ty Mục Tiêu sau khi giao dịch M&A hoàn tất. Theo quy định của pháp luật về đất đai, khi Công Ty Mục Tiêu là doanh nghiệp trong nước trở thành doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Công Ty Mục Tiêu phải thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất do có thay đổi về người sử dụng đất. Bên cạnh đó, cần lưu ý rằng đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thời hạn sử dụng đất đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là không quá 50 năm. Trên thực tế, Công Ty Mục Tiêu sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất do khung pháp lý về thủ tục cho vấn đề này vẫn chưa được hoàn thiện và các địa phương sẽ có thể có các yêu cầu khác nhau.

Thứ tư, về việc tuân thủ các quy định của pháp luật ngoại hối khi thực hiện thanh toán trong giao dịch M&A. Chúng tôi đã gặp trường hợp các nhà đầu tư nước ngoài là người không cư trú thực hiện thanh toán trong giao dịch M&A vào tài khoản thanh toán của Công Ty Mục Tiêu. Việc này dẫn đến các hậu quả Công Ty Mục Tiêu bị xử phạt vi phạm hành chính do vi phạm quy định pháp luật, và nhà đầu tư nước ngoài không thể chuyển lợi nhuận ra nước ngoài do không thể chứng minh dòng tiền trong giao dịch đã được chuyển một cách hợp pháp. Để tránh các rủi ro đã nêu, các khoản thanh toán trong giao dịch M&A của nhà đầu tư nước ngoài là người không cư trú phải được thực hiện thông qua (i) tài khoản vốn đầu tư trực tiếp của Công Ty Mục Tiêu, nếu Công Ty Mục Tiêu có tỷ lệ vốn nước ngoài chiếm từ 51% trở lên; hoặc (ii) tài khoản vốn đầu tư gián tiếp của nhà đầu tư nước ngoài được mở tại ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

Cuối cùng, về báo cáo tài chính của Công Ty Mục Tiêu sau khi trở thành doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Khi Công Ty Mục Tiêu không có vốn đầu tư nước ngoài, báo cáo tài chính hàng năm không bắt buộc phải được kiểm toán. Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, theo quy định của Luật Kiểm toán độc lập thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một trong những đối tượng được quy định buộc báo cáo tài chính hàng năm phải được kiểm toán.

Trên đây là một số vấn đề nhà đầu tư nước ngoài thường gặp trong giao dịch M&A đối với những doanh nghiệp Việt Nam. Chúng tôi hi vọng qua bài viết này, các nhà đầu tư có cái nhìn tổng quát khi đầu tư vào Việt Nam để có thể tránh được các rủi ro pháp lý trong quá trình đầu tư kinh doanh.    

Read more...

Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi xảy ra tai nạn lao động

Năm 2019, theo báo cáo của Bộ Lao Động – Thương Binh và Xã Hội, số vụ tai nạn lao động trên cả nước là 8.150 vụ làm 8.327 người bị nạn trong đó số người chết là 979 người. Việc xảy ra tai nạn lao động làm người lao động phải hứng chịu những thiệt hại về vật chất và suy giảm năng lực lao động. Trong khi đó, người sử dụng lao động sẽ phát sinh các trách nhiệm phải bồi thường hoặc trợ cấp cho người lao động. Do vậy, cả người lao động và người sử dụng lao động đều cần biết những quyền và nghĩa vụ phát sinh khi tai nạn lao động xảy ra.

Xác định tai nạn lao động 

Pháp luật Việt Nam quy định người sử dụng lao động sẽ phát sinh các nghĩa vụ bồi thương hoặc trợ cấp đối với người lao động khi xảy ra tai nạn lao động. Do đó, việc xác định tai nạn như thế nào được xem là tai nạn lao động là một vấn đề quan trọng vì ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của cả người lao động và người sử dụng lao động.

Theo định nghĩa của Bộ Luật Lao Động 2012 và Luật An Toàn, Vệ Sinh Lao Động 2015 thì “Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động”. Theo định nghĩa này một tai nạn được xem là tai nạn lao động khi có 02 yếu tố: (i) xảy ra trong quá trình lao động, và (ii) gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động. Tùy vào việc xác định yếu tố lỗi của người lao động mà người sử dụng lao động tiến hành bồi thường hoặc trợ cấp cho người lao động.

Ngoài ra, theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 39 Luật An toàn vệ sinh lao động 2015, trường hợp người lao động bị tai nạn lao động khi thực hiện nhiệm vụ hoặc tuân theo sự điều hành của doanh nghiệp ở ngoài phạm vi doanh nghiệp, mà do lỗi của người khác gây ra hoặc không xác định được người gây ra tai nạn; người sử dụng lao động vẫn phải có trách nhiệm bồi thường cho người lao.

Trách nhiệm của người sử dụng lao động 

Theo Điều 38 Luật An toàn vệ sinh lao động 2015, người sử dụng lao động có trách nhiệm với người lao động bị tai nạn lao động như sau:

  • Kịp thời sơ cứu, cấp cứu cho người lao động bị tai nạn lao động; đồng thời, phải tạm ứng chi phí sơ cứu, cấp cứu và điều trị cho người lao động bị tai nạn lao động;
  • Giới thiệu để người lao động bị tai nạn lao động, được giám định y khoa xác định mức độ suy giảm khả năng lao động, được điều trị, điều dưỡng, phục hồi chức năng lao động theo quy định pháp luật;
  • Thanh toán các chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định cho người bị tai nạn lao động hoặc bị bệnh nghề nghiệp; cụ thể như sau:
    • Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế;
    • Trả phí khám giám định mức suy giảm khả năng lao động đối với những trường hợp kết luận suy giảm khả năng lao động dưới 5% do người sử dụng lao động giới thiệu người lao động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa;
    • Thanh toán toàn bộ chi phí y tế đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế.
  • Trả đủ tiền lương cho người lao động phải nghỉ việc trong thời gian điều trị, phục hồi chức năng lao động;
  • Bồi thường hoặc trợ cấp cho người lao động, tùy thuộc vào việc tai nạn lao động có phải hoàn toàn do lỗi của chính người lao động gây ra hay không. Cụ thể:
    • Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động mà không hoàn toàn do lỗi của chính người này gây ra và cho người lao động bị bệnh nghề nghiệp với mức như sau:
      • Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương nếu bị suy giảm từ 5% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%;
      • Ít nhất 30 tháng tiền lương cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
    • Trợ cấp cho người lao động bị tai nạn lao động mà do lỗi của chính họ gây ra một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định nêu trên với mức suy giảm khả năng lao động tương ứng.
  • Sắp xếp công việc phù hợp với sức khỏe theo kết luận của Hội đồng giám định y khoa đối với người lao động bị tai nạn lao động tiếp tục làm việc sau khi điều trị, phục hồi chức năng.

Các trường hợp người lao động không được hưởng quyền lợi khi tai nạn lao động xảy ra

Người lao động sẽ không được hưởng bất kỳ quyền lợi nào được liệt kê ở trên khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Do mâu thuẫn của chính nạn nhân với người gây ra tai nạn mà không liên quan đến việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động;
  • Do người lao động cố ý tự hủy hoại sức khỏe của bản thân;
  • Do sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác trái với quy định của pháp luật.

Tai nạn lao động là sự kiện không mong muốn của cả người lao động và người sử dụng lao động. Vì vậy, việc hiểu được các quyền lợi và nghĩa vụ của mình sẽ giúp người lao động và người sử dụng lao động có sự chuẩn bị tốt trong trường hợp có tai nạn lao động xảy ra.

Read more...