Giao dịch đáng chú ý gần đây

Apolat Legal đã tư vấn nhiều giao dịch định hình thị trường trên một loạt các ngành công nghiệp trong lĩnh vực năng lượng, thương mại điện tử, công nghệ, bán lẻ, hậu cần, bất động sản, …

Xem thêm

Sáp nhập và đầu tư

  • Đầu tư nước ngoài
  • Tuân thủ pháp luật
  • Mua bán & Sáp nhập
  • Chi tiết

Thương mại trong và ngoài nước

  • Thương mại quốc tế
  • Mua bán
  • Phân phối
  • Chi tiết

Giải quyết tranh chấp

Lao động

  • Lao động quốc tế
  • Phúc lợi
  • Quản lý nhân sự
  • Chi tiết

Sở hữu trí tuệ

  • Nhượng quyền thương mại
  • Nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp
  • Bản quyền và bằng sáng chế
  • Chi tiết

Bất động sản

  • Bất động sản
  • Cơ sở hạ tầng
  • Giao dịch thuê
  • Chi tiết

Chúng tôi luôn tin rằng

Tại Apolat Legal, sự đa dạng, hòa nhập và bình đẳng là một phần trong cách sống và giá trị của chúng tôi.

Chúng tôi áp dụng các giá trị vào tất cả các hoạt động của chúng tôi trên toàn cầu. Các giá trị đó phản ánh văn hóa và tính cách của chúng tôi cả bên trong lẫn bên ngoài, cách chúng tôi làm việc và những gì chúng tôi đại diện. 

Tầm nhìn của chúng tôi

Tiên phong

Chúng tôi luôn nỗ lực trở thành công ty luật tiên phong với các cam kết về chất lượng và cải tiến dịch vụ cho khách hàng của chúng tôi.

Giá trị cốt lõi của chúng tôi

Đổi mới

Chúng tôi luôn theo đuổi sự xuất sắc và tìm cách đổi mới trong mọi điều chúng tôi làm với mục đích tạo ra giá trị thực cho khách hàng.

Đồng đội của chúng tôi

Đa dạng

Chúng tôi coi trọng sự đa dạng và tôn trọng cá nhân. Chúng tôi tin vào tinh thần đồng đội vì lợi ích của công ty và khách hàng của chúng tôi.

Khách hàng của chúng tôi

Mối quan hệ bền vững

Chúng tôi tin tưởng vào mối quan hệ lâu dài với khách hàng dựa trên sự cởi mở và trung thực với trọng tâm luôn là lợi ích của khách hàng.

Cộng đồng xung quanh chúng tôi

Sự kết nối

Sức mạnh và tầm nhìn của chúng tôi sẽ được hình thành dựa trên bản sắc thực tiễn của địa phương, mối quan hệ và văn hoá làm việc của chúng tôi.

Cập nhật mới nhất

TIN TỨC VÀ CẬP NHẬT PHÁP LÝ

[Cập nhật pháp lý] Chính sách cách ly xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg: nên hiểu thế nào?

1| Chính sách cách ly xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg: nên hiểu thế nào?

Trong nỗ lực ngăn chặn sự lây lan của virut Corona, vào ngày 31 tháng 3 năm 2020, Thủ Tướng Chính Phủ đã ban hành Chỉ Thị số 16/CT-TTg về việc thực hiện các biện pháp cấp bách phòng chống đại dịch COVID-19 (“Chỉ Thị 16”). Chỉ Thị 16 đưa ra một số quy tắc cách ly xã hội nghiêm ngặt đặt ra trên toàn quốc trong mười bốn (14) ngày bắt đầu từ ngày 1 tháng 4 năm 2020, bao gồm:

  • Yêu cầu mọi người dân ở tại nhà, chỉ ra ngoài trong trường hợp thật sự cần thiết như mua lương thực, thực phẩm, thuốc men, cấp cứu, làm việc tại nhà máy, cơ sở sản xuất, cơ sở kinh doanh dịch vụ, hàng hóa thiết yếu không bị đóng cửa, dừng hoạt động và các trường hợp khẩn cấp khác;
  • Thực hiện nghiêm việc giữ khoảng cách tối thiểu 2m khi giao tiếp;
  • Không tập trung quá 2 người ngoài phạm vi công sở, trường học, bệnh viện và tại nơi công cộng;
  • Các nhà máy và nhà xưởng được yêu cầu để đảm bảo khoảng cách an toàn giữa các nhân viên, phải đeo khẩu trang và nơi làm việc phải được khử trùng theo quy định;
  • Các cơ quan, đơn vị nhà nước bố trí cho cán bộ, công chức, viên chức làm việc tại nhà, trừ trường hợp thật sự cần thiết;
  • Dừng hoạt động vận chuyển hành khách công cộng và hạn chế tối đa việc di chuyển từ khu vực này sang khu vực khác, trừ vận chuyển thực phẩm và hàng hóa thiết yếu; và
  • Tạm thời đóng cửa các cửa khẩu chính, cửa khẩu phụ dành cho người qua lại từ 00 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2020 trên tuyến biên giới với Lào và Campuchia. Kiểm soát chặt chẽ việc nhập cảnh qua các cửa khẩu quốc tế trên các tuyến biên giới đường bộ; tất cả người nhập cảnh từ Lào, Campuchia đều phải cách ly tập trung 14 ngày.

Hiện tại, vẫn có nhiều khác biệt giữa các địa phương trong việc giải thích Chỉ Thị 16 và việc các doanh nghiệp cần làm gì để tuân thủ Chỉ Thị này. Do đó, vào ngày 03 tháng 4 năm 2020, Văn Phòng Chính Phủ đã ban hành Công Văn số 2601/VPCP-KGVX hướng dẫn chi tiết về việc thực hiện Chỉ Thị 16 liên quan đến các nguyên tắc cách ly xã hội trong 14 ngày.

Một số nội dung chính của Công Văn gồm:

  • Các nhà máy và đơn vị sản xuất, giao thông, công trường, và các tổ chức cung cấp hàng hóa và dịch vụ thiết yếu – thực phẩm, thuốc, dầu khí, tiện ích, năng lượng, v.v. – vẫn sẽ hoạt động bình thường;
  • Ngân hàng, kho bạc, sàn giao dịch chứng khoán và các dịch vụ khác liên quan trực tiếp đến hoạt động ngân hàng và doanh nghiệp – hoạt động công chứng, luật sư, đăng ký hoặc thực hiệc giao dịch bảo đảm – cũng được phép hoạt động;
  • Bưu điện, dịch vụ giao nhận, dịch vụ tang lễ và dịch vụ chăm sóc sức khỏe vẫn có thể hoạt động;
    • Công Văn cũng lưu ý rằng chính quyền từng tỉnh, thành phố có thể, theo quyết định của mình, ban hành danh sách những dịch vụ và hoạt động cần được tạm thời đóng cửa.

Mặc dù văn bản trên không phải là một hướng dẫn đầy đủ nhất về Chỉ Thị 16, văn bản này đã khẳng định rõ ràng hơn rằng Chỉ Thị 16 trên thực tế không yêu cầu thực hiện biện pháp phong tỏa.

2| Thông báo hỏa tốc của Cục Sở hữu Trí tuệ Việt Nam về việc áp dụng các quy định của pháp luật về thời hạn trong bối cảnh dịch bùng phát virut corona

Vào ngày 31 tháng 3 năm 2020, Cục Sở hữu Trí tuệ Việt Nam (Cục SHTT) đã ban hành Thông báo hỏa tốc số 5277/TB-SHTT (“Thông Báo 5277“) về việc áp dụng các biện pháp liên quan đến gia hạn thời hạn cho các thủ tục thiết lập quyền sở hữu công nghiệp bị ảnh hưởng bởi sự bùng phát COVID-19 cũng như đưa ra một số hướng dẫn về thực hiện các giao dịch giữa Cục SHTT và người nộp đơn trong giai đoạn này, cụ thể:

  • Mọi thủ tục đến hạn nằm trong khoảng thời gian kể từ ngày 30 tháng 3 năm 2020 đến hết ngày 30 tháng 4 năm 2020 liên quan đến thời hạn của thủ tục xác lập quyền các đối tượng sở hữu công nghiệp tự động được gia hạn đến hết ngày 30 tháng 5 năm 2020. Cục SHTT giải thích thêm rằng việc gia hạn tự động sẽ áp dụng cho yêu cầu hưởng quyền ưu tiên, bổ sung tài liệu, phản hồi các quyết định/thông báo của Cục SHTT, duy trì, gia hạn hiệu lực văn bằng bảo hộ, nộp các loại phí, lệ phí, nộp đơn khiếu nại.
  • Thời điểm bắt đầu nhận yêu cầu thẩm định nhanh PPH theo Thỏa thuận giữa Cục SHTT và Cơ quan Sáng chế Nhật Bản được bắt đầu từ ngày 04 tháng 5 năm 2020 thay cho ngày 01 tháng 4 năm 2020 theo các thông báo trước đây của Cục SHTT.
  • Kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2020, mọi giao dịch giữa Cục SHTT (bao gồm Văn phòng đại diện Cục SHTT tại Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh) và người nộp đơn chỉ được thực hiện thông qua dịch vụ bưu chính hoặc hệ thống nộp đơn trực tuyến cho đến khi có thông báo mới. Việc nộp phí và lệ phí của người nộp đơn được thực hiện thông qua dịch vụ bưu chính hoặc chuyển khoản vào tài khoản của Cục SHTT tại Kho bạc nhà nước cho đến khi có thông báo mới. 
Read more...

[Cập nhật pháp lý] Thư Cập Nhật Nhanh Thông Tin Pháp Lý 30/3/2020

1| Chính phủ ban hành Nghị định 35/2020/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Cạnh tranh 2018

Nghị định 35/2020/ND-CP ban hành ngày 24 tháng 3 năm 2020, hướng dẫn chi tiết về việc thi hành Luật Cạnh tranh Việt Nam 2018. Nghị định quy định hai nội dung quan trọng, bao gồm:

a) 02 trường hợp được kiểm soát, chi phối doanh nghiệp bị mua lại hoặc ngành nghề của doanh nghiệp đó, bao gồm:

  • Doanh nghiệp mua lại giành được quyền sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc trên 50% cổ phần có quyền biểu quyết của doanh nghiệp bị mua lại;
  • Doanh nghiệp mua lại giành được quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng trên 50% tài sản của doanh nghiệp bị mua lại trong toàn bộ hoặc một ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp bị mua lại đó.

b) Quy định các loại rào cản gia nhập, mở rộng thị trường ảnh hưởng đến cạnh tranh, bao gồm:

  • Rào cản pháp lý tạo ra bởi các quy định của pháp luật, chính sách của nhà nước bao gồm các quy định về thuế nhập khẩu và hạn ngạnh nhập khẩu; quy chuẩn kỹ thuật; các điều kiện, thủ tục để sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; quy định về sử dụng hàng hóa, dịch vụ; tiêu chuẩn nghề nghiệp và các quyết định hành chính khác của các cơ quan quản lý nhà nước;
  • Rào cản tài chính bao gồm chi phí đầu tư sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, khả năng tiếp cận nguồn vốn, tín dụng và các nguồn tài chính khác của doanh nghiệp;
  • Chi phí ban đầu khi gia nhập thị trường mà doanh nghiệp không thể thu hồi khi rút khỏi thị trường;
  • Rào cản đối với việc tiếp cận, nắm giữ nguồn cung, cơ sở hạ tầng thiết yếu để sản xuất, kinh doanh; mạng lưới phân phối, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ trên thị trường;
  • Tập quán tiêu dùng;
  • Thông lệ, tập quán kinh doanh;
  • Rào cản liên quan việc thực hiện quyền của tổ chức, cá nhân đối với trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng theo quy định của pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ;
  • Rào cản gia nhập, mở rộng thị trường khác.

Nghị định sẽ có hiệu lực từ ngày 15 tháng 5 năm 2020.

2| Nghị đinh 15/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử

Đáng chú ý, Điều 101 nghị định này quy định xử phạt từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng cho một trong các hành vi sau:

  • Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân;
  • Cung cấp, chia sẻ thông tin cổ súy các hủ tục, mê tín, dị đoan, dâm ô, đồi trụy, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc;
  • Cung cấp, chia sẻ thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong Nhân dân, kích động bạo lực, tội ác, tệ nạn xã hội, đánh bạc hoặc phục vụ đánh bạc;
  • Quảng cáo, tuyên truyền, chia sẻ thông tin về hàng hóa, dịch vụ bị cấm;
  • Cung cấp, chia sẻ hình ảnh bản đồ Việt Nam nhưng không thể hiện hoặc thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia;
  • Cung cấp, chia sẻ đường dẫn đến thông tin trên mạng có nội dung bị cấm.

Nghị định sẽ có hiệu lực từ ngày 15 tháng 4 năm 2020.

Read more...

[Cập nhật pháp lý] Một số quy định pháp luật mới đáng chú ý trong mùa dịch Covid-19

1| Khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 có thể được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ tại các tổ chức tín dụng

Thông tư số 01/2020/TT-NHNN do Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 13/3/2020 quy định về việc các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng do dịch Covid–19. Trong đó:

a. Các trường hợp được thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với số dư nợ gốc và/hoặc lãi, bao gồm:

  • Số dư nợ còn trong hạn hoặc quá hạn đến 10 ngày kể từ ngày đến hạn thanh toán, đến thời hạn trả nợ theo hợp đồng, theo thỏa thuận cho vay hoặc cho thuê tài chính đã ký;
  • Số dư nợ đã quá hạn (trừ trường hợp quá hạn đề cập ở trên) trong khoảng thời gian từ ngày 23/01/2020 đến ngày liền kề sau 15 ngày kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực.

b. Theo đó, số dư nợ gốc và/hoặc lãi được cơ cấu lại thời hạn trả nợ phải đáp ứng các điều kiện như sau:

  • Phát sinh từ hoạt động cho vay, cho thuê tài chính;
  • Phát sinh nghĩa vụ trả nợ gốc và/hoặc lãi trong khoảng thời gian từ ngày 23/01/2020 đến ngày liền kề sau 03 tháng kể từ ngày Thủ tướng Chính Phủ công bố hết dịch Covid-19;
  • Khách hàng không có khả năng trả nợ đúng hạn theo hợp đồng, theo thỏa thuận cho vay, cho thuê tài chính đã ký do doanh thu, thu nhập sụt giảm từ ảnh hưởng của dịch Covid-19.

c. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài quyết định việc miễn, giảm lãi, phí theo quy định nội bộ đối với số dư nợ phát sinh từ hoạt động cấp tín dụng (trừ hoạt động mua, đầu tư trái phiếu doanh nghiệp) đối với:

  • Nghĩa vụ trả nợ gốc và/hoặc lãi đến hạn thanh toán trong thời gian từ ngày 23/01/2020 đến ngày liền kề sau 03 tháng kể từ ngày Thủ tướng Chính Phủ công bố hết dịch Covid-19;
  • Khách hàng không có khả năng trả nợ đúng hạn theo hợp đồng, theo thỏa thuận đã ký do doanh thu, thu nhập sụt giảm bởi ảnh hưởng của dịch Covid-19.

d. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài giữ nguyên nhóm nợ (đã phân loại theo quy định) tại thời điểm gần nhất trước ngày 23/01/2020 đối với:

  • Số dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ;
  • Số dư nợ được miễn, giảm lãi;
  • Số dư nợ đối với hai loại nêu trên và cả phần dư nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, điều chỉnh nhóm nợ theo quy định trong thời gian từ ngày 23/01/2020 đến ngày liền kề sau 15 ngày kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực.

Thông tư 01/2020/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 13/03/2020.

2| Một số điểm mới nổi bật về chứng thực bản sao từ bản chính; chứng thực chữ ký; chứng thực hợp đồng, giao dịch

Vào ngày 03/03/2020, Bộ Tư Pháp ban hành Thông tư số 01/2020/TT-BTP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính Phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch.

Theo đó, một số điểm mới nổi bật như sau:

a. Một số giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp cho cá nhân như hộ chiếu, thẻ căn cước, thẻ thường trú, thẻ cư trú, giấy phép lái xe, bằng tốt nghiệp, các chứng chỉ và bảng điểm kèm theo bằng tốt nghiệp, chứng chỉ thì khi chứng thực bản sao từ bản chính hoặc chứng thực chữ ký người dịch trên bản dịch các giấy tờ này cũng không phải hợp pháp hóa lãnh sự.

b. Chứng thực chữ ký trên giấy ủy quyền được thực hiện trong các trường hợp sau:

  • Ủy quyền về việc nộp hộ, nhận hộ hồ sơ, giấy tờ, trừ trường hợp pháp luật quy định không được ủy quyền;
  • Ủy quyền nhận hộ lương hưu, bưu phẩm, trợ cấp, phụ cấp;
  • Ủy quyền nhờ trông nom nhà cửa;
  • Ủy quyền của thành viên hộ gia đình để vay vốn tại Ngân hàng chính sách xã hội.

Lưu ý: Việc ủy quyền nêu trên phải đáp ứng các điều kiện: ủy quyền không có thù lao, không có nghĩa vụ bồi thường của bên được ủy quyền, không liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu tài sản và quyền sử dụng bất động sản.

Thông tư 01/2020/TT-BTP có hiệu lực từ ngày 20/04/2020.

3| Áp dụng chế độ cấp giấy phép xuất khẩu đối với mặt hàng khẩu trang y tế trong giai đoạn phòng, chống dịch Covid-19

Nghị quyết số 20/NQ-CP của Chính Phủ ban hành ngày 28/02/2020 quy định về việc áp dụng chế độ cấp giấy phép xuất khẩu đối với mặt hàng khẩu trang y tế trong giai đoạn phòng, chống dịch Covid-19.

Những nội dung cơ bản được Nghị quyết thông qua bao gồm:

  • Bộ Y tế áp dụng chế độ cấp giấy phép xuất khẩu đối với mặt hàng khẩu trang y tế trong giai đoạn phòng, chống dịch Covid-19;
  • Chỉ cho phép xuất khẩu mặt hàng khẩu trang y tế với mục đích viện trợ, hỗ trợ quốc tế do Chính phủ Việt Nam thực hiện (tối đa 25% sản lượng cho xuất khẩu, 75% sản lượng dành cho công tác phòng, chống dịch bệnh trong nước);
  • Không áp dụng quy định trên đối với hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp chế xuất đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư, và doanh nghiệp gia công khẩu trang y tế cho thương nhân nước ngoài đã ký hợp đồng gia công trước ngày 01/03/2020;
  • Hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp giấy phép xuất khẩu và tiêu chuẩn đối với mặt hàng khẩu trang y tế do Bộ Y tế, Bộ Công thương và Bộ Tài chính phối hợp thực hiện;
  • Các cơ sở sản xuất mặt hàng khẩu trang y tế có trách nhiệm báo cáo về năng lực sản xuất theo yêu cầu của Bộ Y tế.

Read more...

BÀI VIẾT

Covid-19: Thuật Ngữ “Tự Do Ngôn Luận” Có Đang Bị Hiểu Sai?

Áp lực từ cuộc chiến chống lại vi-rút Corona (nCov) vẫn đang gia tăng. Chính phủ các nước, bao gồm Việt Nam, đang nỗ lực tối đa để kiêm soát hoạt động ở nhiều lĩnh vực bị ảnh hưởng nặng nề do sự lây lan của vi-rút. Như thường lệ, thông tin, là một trong những thách thức đối với cả chính phủ và xã hội khi mà nhiều thông tin sai sự thật được lan truyền trên rộng rãi trên Internet. May mắn là vẫn chưa có bất kỳ thiệt hại nặng nề nào do các thông tin thất thiệt đó gây ra. Tuy nhiên, bất kể là cố hay không, cách mà mọi người đăng tải và chia sẻ thông tin giả trên các trang mạng xã hội vẫn là mội mối lo cần được lưu tâm một cách nghiêm túc.

Quay ngược lại thời điểm giữa năm 2018, khi Quốc hội Việt Nam thông qua Luật An ninh mạng, đã có rất nhiều cuộc tranh luận ở khắp nơi bày tỏ mối lo vền vấn đề quyền tự do ngôn luận. Những người phản đối tin rằng quy định của nó sẽ vi phạm quyền tự do truyền đạt thông tin của mọi người. Tuy nhiên, kể từ khi luật được áp dụng, người dùng internet vẫn hoàn toàn có thể đăng tải và chia sẻ thông tin một cách bình thường trên Facebook. Không có bất kỳ kịch bản tồi tệ nào xảy ra như những người phản đối đã dự đoán. Thực tế, cơ quan chức năng chỉ mới làm mạnh tay khi gần đây một số người phát tán thông tin sai về tình hình dịch bệnh, làm ảnh hưởng công tác chốn dịch của cả nước.

Trên thực tế, một số người cho rằng điều nguy hiểm nhất không phải là cách thức quản lý an ninh mạng của chính phủ, mà là cách một số người hiểu về bản chất của quyền tự do ngôn luận. Từ “tự do” trong thuật ngữ này có vẻ đã bị hiểu sai về mức độ thành tự do không có giới hạn, và những người có tư tưởng đó cho phép bản thân nói bất kỳ điều gì họ muốn mà không cần biết về tác động tiêu cực mà lời nói đó có thể gây ra cho cộng đồng của mình. Điều 19 Tuyên ngôn Quốc tế về Quyền con người thừa nhận rằng “Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia.[1]. Rõ ràng, việc chỉ dẫn chiếu đến điều này sẽ khiến mọi người hiểu rằng không có bất kỳ một giới hạn nào đối với quyền này. Theo đó, hậu quả là mọi người có xu hướng đưa ra bất kỳ nhận định hoặc chia sẻ bất kỳ bài viết nào họ muốn mà thường rất ít khi cân nhắc cẩn thận về độ tin cậy của thông tin đó.

Thực ra, Điều 19 nêu trên chỉ là một nguyên tắc chung được các quốc gia thừa nhận vô điều kiện và thành viên của Liên Hợp Quốc phải đảm bảo thực thi quyền này trong lãnh thổ của mình. Liên Hợp Quốc chỉ để mở quy định trên để các quốc gia tự điều chỉnh và áp dụng cho phù hợp với bối cảnh tại quốc gia mình. Trên thực tế, các quốc gia khi áp dụng quy tắc này vẫn luân đặt ra các loại trừ. Tùy thuộc vào quan điểm của mỗi quốc gia và độ quan trọng của thông tin, các quy định loại trừ được đặt ra nhằm bảo vệ bí mật liên quan đến quốc phòng, thông tin chính trị nhạy cảm, sức khỏe cộng đồng, an ninh và trật tự, v.v. Trong những trường hợp đó, mọi người buộc phải bị hạn chế và ngăn thực hiện quyền tự do trình bày suy nghĩ, quan điểm, ý kiến hoặc bất kỳ đánh giá nào.

Lấy Hoa Kỳ làm ví dụ, bản Sửa đổi Hiến chương lần thứ Nhất của nước này đặt ra sáu hạn chế đối với vấn đề tự do ngôn luận, bao gồm: thông tin có tính chất kích động bạo lực, đả kích, khiêu dâm, xúc phạm danh dự nhân phẩm, quảng cáo thương mại sai sự thật, và các trường hợp phải giới hạn quyền tự do ngôn luận vì các lợi ích cần thiết hơn. Hoặc theo Điều 10(2) trong Hiệp định Châu Âu về quyền con người “Vì quyền lợi phải đi cùng với nghĩa vụ và trách nhiệm, việc thực hiện quyền tự do ngôn luận trong một số trường hợp có thể phải tuân thủ các hình thức, điều kiện, hạn chế hoặc hình phạt do luật quy định và quan trọng đối với một xã hội dân chủ, an ninh quốc gia, sự toàn vẹn lãnh thổ hoặc an toàn cho cộng đồng, để ngăn chặn sự suy đồi hoặc tội phạm, để bảo vệ sức khỏe và đạo đức, để bảo vệ danh tiếng hoặc quyền lợi của người khác, để ngăn chặn việc tiết lộ thông tin được xem là bảo mật, hoặc để duy trì quyền lực và sự khách quan của nền tài phán.”

So với pháp luật Việt Nam, các hạn chế đối với quyền tự do ngôn luận nhìn chung là tương tự với Hoa Kỳ và Châu Âu. Các nhà làm luật của Việt Nam hướng tới việc loại bỏ các thông tin vi phạm quyền hợp pháp của người khác và lợi ích Quốc gia. Bất kỳ tuyên bố nào nhằm tiết lộ thông tin mật của quốc gia, bí mật cá nhân, hoặc kích động chiến tranh, bạo loạn, hoặc để xỉ nhục, xúc phạm cá nhân và tổ chức khác, hoặc cung cấp thông tin sai sự thật cho người tiên dùng, lợi ích cộng đồng, phải bị ngăn cản quyết liệt. Hình thức xử lý đối với các vi phạm như trên cũng đa dạng tùy vào mức độ vi phạm, từ phạt vi phạm hành chính đến việc bồi thường thiệt hại hoặc xử lý hình sự, phụ thuộc vào độ nghiêm trọng của từng vụ cụ thể. Ví dụ, hành vi xúc phạm danh dự nhân phẩm trên internet bị phạt từ 20,000,000 đến 30,000,000 Việt Nam Đồng.[2] Người bị xúc phạm cũng có quyền khởi kiện ra tòa án yêu cầu bồi thường thiệt hại.[3] Xa hơn, việc sử dụng internet hoặc công nghệ để phạm tội có thể bị kết án lên đên 03 năm tù, và nếu hành vi ấy làm nạn nhân tự sát, thì người vi phạm có thể bị kết án lên đến 07 năm tù.[4]

Cũng cần thừa nhận rằng, thực tế của việc đánh giá một bài viết hay lời nói có rơi vào trường hợp loại trừ hay không thường khó hơn so với tưởng tượng, kể cả với các quốc gia có nền tư pháp phát triên như Hoa Kỳ hoặc các nước châu Âu. Điều này là vì không có bất kỳ định nghĩa thống nhất hay một đơn vị đo lường nào để xác định một tình huống có được bảo vệ quyền tự ngôn luận hay không. Việc đánh giá và ra quyết định sẽ do cơ quan tài phán đánh giá trên cơ sở các sự thật, bằng chính và ngữ cảnh của từng vụ việc cụ thể. Do đó, điều này đòi hỏi thẩm phán và các các bộ tư pháp phải có khả năng phân tích và lập luận để đưa ra kết luận hợp lý.

Cuối cùng, lần tới khi đăng tải hay truyền đạt bất kỳ thông tin quan trọng nào có ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự nhân phẩm, quyền hợp pháp của người khác, đến sức khỏe và sự an toàn của toàn xã hội, và đến lợi ích chung của quốc gia, xin hãy nhớ thành ngữ “uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”.           

[1] Bản dịch của Thư Viện Pháp Luật: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Quyen-dan-su/Tuyen-ngon-quoc-te-nhan-quyen-1948/65774/noi-dung.aspx

[2] Điều 64.3 Nghị định 174/2013/NĐ-CP.

[3] Điều 32.3 Bộ luật Dân sự 2015.

[4] Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015

Read more...

Covid -19: Vận Dụng Luật Phá Sản Để Thu Hồi Nợ

Doanh nghiệp báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh có lợi nhuận nhưng lại không có tiền, vấn đề này không hiếm gặp và một trong những nguyên nhân phổ biến nhất là do “công nợ”. Số tiền lợi nhuận và có khi bao gồm cả nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp đang nằm ở nơi con nợ của họ. Hiện nay, chúng ta nghe nhắc tới nhiều cụm từ “chiếm dụng vốn” và một số người còn lấy đó làm hãnh diện, xem đó là việc làm thông minh khi chiếm dụng được vốn của doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, họ phải hiểu rằng “chiếm dụng vốn đúng pháp luật” và “chiếm dụng vốn trái pháp luật” là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Nếu một doanh nghiệp đàm phán được với nhà cung cấp trả chậm 45 ngày từ ngày giao hàng, ở góc độ kinh tế doanh nghiệp đang được sử dụng tiền vốn miễn phí của nhà cung cấp trong 45 ngày, ở góc độ pháp lý việc làm này là hợp pháp. Tuy nhiên, đến hết 45 ngày nêu trên doanh nghiệp vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán và giữ khoản tiền này tới nhiều tháng nữa tức là họ đang thực hiện hành vi vi phạm hợp đồng và phải chịu chế tài vi phạm hợp đồng (nếu có). Đây được xem là hành vi chiếm dụng vốn trái phép.

Với việc “chiếm dụng vốn” bằng hành vi vi phạm thoả thuận, chủ nợ có nhiều lựa chọn để thu hồi khoản nợ này như: thương lượng, hoà giải hay khởi kiện tại toà án, trọng tài thương mại… Từ khi có Luật phá sản và đặc biệt là Luật phá sản 2014 có hiệu lực, chủ nợ có thêm một phương án nữa để lựa chọn khi tiến hành thu hồi công nợ.

Luật phá sản cho chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.”[1] Khi doanh nghiệp bị Toà án ra Quyết định mở thủ tục phá sản đồng nghĩa doanh nghiệp mất khả năng thanh toán mà cụ thể doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.[2] Theo đó, một khoản nợ không kể là ít hay nhiều, giá trị bao nhiêu, chỉ cần khoản nợ đó đã đến hạn và đã quá thời hạn 3 tháng từ ngày đến hạn mà doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì được xem là mất khả năng thanh toán và sẽ bị Toà án ra Quyết định mở thủ tục phá sản khi có yêu cầu từ chủ nợ.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hợp lệ, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản có quyền đề nghị bằng văn bản gửi Tòa án để các bên thương lượng việc rút đơn. Tòa án ấn định thời gian thương lượng nhưng không quá 20 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hợp lệ. Như vậy, trước khi thụ lý đơn Toà án cho chủ nợ và con nợ được ngồi đàm phán, thương lượng với nhau. Với một con nợ vẫn còn khả năng thanh toán mà bị nộp đơn đề nghị phá sản, việc này sẽ gây ra một áp lực tâm lý nhất định với con nợ. Con nợ sẽ phải hiểu nếu thương lượng không thành thì những hệ quả của Quyết định mở thủ tục phá sản sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền tự quyết của chủ doanh nghiệp.[3] Cụ thể, sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp vẫn tiếp tục hoạt động kinh doanh, nhưng phải chịu sự giám sát của Thẩm phán và Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.[4] Doanh nghiệp không được quyền trả nợ không có bảo đảm[5], bị giám sát các hoạt động liên quan đến việc vay, cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, mua bán, chuyển nhượng, cho thuê tài sản; bán, chuyển đổi cổ phần; chuyển quyền sở hữu tài sản[6], bị áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo toàn tài sản của doanh nghiệp[7]

Ngoài các vấn đề nêu trên, khi Quyết định mở thủ tục phá sản được ban hành, toàn bộ các chủ nợ của doanh nghiệp sẽ cùng lúc kéo tới để yêu cầu quyền lợi của mình. Điều này sẽ gây áp lực cực lớn cho việc trả nợ của con nợ, thay vì một chủ nợ yêu cầu thanh toán thì nay sẽ là toàn bộ các chủ nợ trong đó có cả người lao động, nghĩa vụ thuế… Bởi vậy, nếu chủ nợ có thể vận dụng một cách linh hoạt và uyển chuyển các quy định của Luật phá sản, chủ nợ sẽ đưa con nợ tới tình huống hoặc lựa chọn trả nợ cho mình hoặc phải đối phó với rất nhiều các chủ nợ khác và toàn bộ hoạt động kinh doanh bị kiểm soát, phong toả.

Như vậy, đối với doanh nghiệp có khả năng thanh toán nhưng cố tình “chiếm dụng vốn trái luật” thì Luật phá sản là một công cụ để thương lượng đối với chủ nợ có khoản nợ rõ ràng, thời điểm đến hạn thanh toán rõ ràng mà hiện nay chứng cứ được Toà án công nhận giá trị cao nhất là văn bản xác nhận công nợ, cam kết trả nợ hoặc văn bản tương tự. Trong trường hợp doanh nghiệp thực sự mất khả năng thanh toán thì Luật phá sản sẽ giúp chủ nợ bảo toàn tài sản của doanh nghiệp để chủ nợ có thể thu hồi được một phần tài sản nào đó, tránh trường hợp doanh nghiệp tiến hành tẩu tán tài sản.

[1] Luật phá sản 2014, Điều 5, Khoản 1

[2]Luật phá sản 2014, Điều 4, Khoản 1

[3] Luật phá sản 2014, Điều 37, Khoản 1

[4] Luật phá sản 2014, Điều 47, Khoản 1

[5] Luật phá sản, Điều 48, Khoản 1, Điểm b

[6] Luật phá sản, Điều 49, Khoản 1, Điểm a

[7] Luật phá sản, Điều 70, Khoản 1

Read more...

Thế Chấp Tài Sản Để Đảm Bảo Nghĩa Vụ Thực Hiện Hợp Đồng Của Doanh Nghiệp

Thế chấp tài sản là một trong chín (09) biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được pháp luật Việt Nam điều chỉnh. Các biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự không những mang ý nghĩa hạn chế các rủi ro có thể xảy ra trong các giao dịch này mà ngày nay còn được sử dụng nhiều trong lĩnh vực thương mại, đặc biệt là để hạn chế rủi ro và đảm bảo thực hiện nghĩa vụ hợp đồng giữa các doanh nghiệp. Để tìm hiểu rõ hơn về tính pháp lý của biện pháp bảo đảm này, hãy đọc bài viết dưới đây:

Bộ luật dân sự hiện hành định nghĩa “Thế chấp tài sản là việc một bên dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia”.

Các doanh nghiệp muốn tham gia giao dịch thế chấp tài sản này phải đáp ứng các điều kiện như các điều kiện về chủ thể trong các giao dịch khác như: Pháp nhân hợp pháp theo quy định pháp luật Việt Nam, tham gia giao dịch thế chấp tài sản với mục đích không trái quy định pháp luật. Doanh nghiệp thường thế chấp tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp để phục vụ cho mục đích vay có bảo đảm, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng khi giao kết hợp đồng với các doanh nghiệp khác,….Các loại tài sản dùng trong giao dịch thế chấp cũng chính là tài sản nói chung theo quy định pháp luật dân sự và các quy định khác, bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản gồm bất động sản và động sản, có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai, có thể là tài sản hữu hình hoặc tài sản vô hình. Tài sản thế chấp phải đáp ứng các điều kiện nhất định, bao gồm[1]: (i) tài sản phải thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, trừ trường hợp cầm giữ tài sản và bảo lưu quyền sở hữu; (ii) doanh nghiệp có thể trực tiếp hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện giao dịch thế chấp; (iii) tài sản thế chấp có thể là tài sản hiện có hoặc hình thành trong tương lai, kể cả bất đông sản, trừ quyền sử dụng đất (điểm c, khoản 2, Điều 4, Nghị định 163/2006 được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 83/2010/NĐ-CP, Nghị định 05/2012/NĐ-CP và Nghị định 11/2012/NĐ-CP); (iv) tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được; (v) giá trị của tài sản có thể bằng, lớn hơn hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm. Một tài sản thế chấp có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, nếu tại thời điểm xác lập các giao dịch thế chấp có giá trị của tài sản thế chấp lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm. Trong trường hợp này, doanh nghiệp dùng tài sản để thế chấp có nghĩa vụ thông báo cho các bên nhận tài sản thế chấp sau biết về các giao dịch thế chấp tài sản trước đó. Ngoài ra, nếu giấy tờ liên quan đến việc xác lập quyền sở hữu tài sản thế chấp của doanh nghiệp do bên nhận thế chấp trước đó cầm giữ, doanh nghiệp phải thông báo cho bên nhận thế chấp.

Giao dịch thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản và có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Khi giao kết hợp đồng thế chấp, doanh nghiệp càng làm rõ các vấn đề pháp lý thì rủi ro tranh chấp càng ít xảy ra. Sau khi các bên giao kết hợp đồng thế chấp, doanh nghiệp thế chấp được quyền giữ tài sản hoặc một bên thứ ba giữ theo thỏa thuận của các bên. Do đó, bên thế chấp có quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản thế chấp. Vì vậy, bên nhận thế chấp muốn nhận cả hoa lợi, lợi tức làm tài sản thế chấp thì phải thỏa thuận rõ trong hợp đồng thế chấp là nó cũng thuộc về tài sản thế chấp.

Bên thế chấp được quyền đầu tư vào tài sản thế chấp do mình có quyền giữ với mục đích làm tăng giá trị của tài sản thế chấp, được khai thác công dụng, được cho thuê, cho mượn tài sản thế. Những quyền này của bên thế chấp được pháp luật dân sự quy định cụ thể về quyền của bên thế chấp. Do đó, bên nhận thế chấp không có quyền hạn chế thực hiện các việc trên. Điều này nếu thỏa thuận trái với pháp luật thì có khả năng điều khoản này sẽ bị vô hiệu. Tuy nhiên, việc được quyền đầu tư vào tài sản thế chấp của bên thế chấp sẽ là rủi ro cho bên nhận thế chấp khi bên thế chấp đương nhiên có quyền mà không cần sự thông qua của bên nhận thế chấp. Ngoài ra, việc đầu tư vào tài sản thế chấp có năng không làm tăng giá trị tài sản, mà tình trạng xấu hơn có thể xảy đến là giá trị tài sản thế chấp bị giảm giá trị. Từ đó, việc giá trị tài sản thế chấp bị giảm sút sẽ làm cho giao dịch bảo đảm không còn khả năng bảo đảm cao khi bên thế chấp vi phạm hợp đồng. Giải pháp đặt ra cho các doanh nghiệp là bên nhận thế chấp phải ràng buộc bên thế chấp bằng các điều khoản chặt chẽ tại hợp đồng quy định rõ ràng về việc bên thế chấp muốn cho thuê, đầu tư, cải tạo, thậm chí là khai thác, sử dụng tài sản thế chấp đều phải được sự đồng ý của bên nhận thế chấp. Ngoài ra, bên thế chấp không có quyền bán tài sản, trừ trường hợp bán để trả nợ cho nghĩa vụ thế chấp.

Biện pháp thế chấp tài sản là một biện pháp thường xuyên được các doanh nghiệp áp dụng trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Do đó, việc hiểu đúng bản chất của loại giao dịch này giúp cho các doanh nghiệp hạn chế được các rủi ro có thể phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng và đảm bảo quyền lợi của doanh nghiệp mình.

[1] Điều 295 Bộ luật Dân sự 2015

Read more...