Trang chủ

Giao dịch đáng chú ý gần đây

Apolat Legal đã tư vấn nhiều giao dịch định hình thị trường trên một loạt các ngành công nghiệp trong lĩnh vực năng lượng, thương mại điện tử, công nghệ, bán lẻ, hậu cần, bất động sản, …

Xem thêm

Sáp nhập và đầu tư

  • Đầu tư nước ngoài
  • Tuân thủ pháp luật
  • Mua bán & Sáp nhập
  • Chi tiết

Thương mại trong và ngoài nước

  • Thương mại quốc tế
  • Mua bán
  • Phân phối
  • Chi tiết

Giải quyết tranh chấp

Lao động

  • Lao động quốc tế
  • Phúc lợi
  • Quản lý nhân sự
  • Chi tiết

Sở hữu trí tuệ

  • Nhượng quyền thương mại
  • Nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp
  • Bản quyền và bằng sáng chế
  • Chi tiết

Bất động sản

  • Bất động sản
  • Cơ sở hạ tầng
  • Giao dịch thuê
  • Chi tiết

Hợp tác quốc tế

apolat-legal-international-law-firm

Apolat Legal chính thức trở thành thành viên độc quyền của MSI Global Alliance (MSI) tại Việt Nam.

1111-01-300x100
asialaw-logo-red 200
26219684_1906291599444458_1493727444978141422_n
lawasia-01-300x100

Chúng tôi luôn tin rằng

Tại Apolat Legal, sự đa dạng, hòa nhập và bình đẳng là một phần trong cách sống và giá trị của chúng tôi.

Chúng tôi áp dụng các giá trị vào tất cả các hoạt động của chúng tôi trên toàn cầu. Các giá trị đó phản ánh văn hóa và tính cách của chúng tôi cả bên trong lẫn bên ngoài, cách chúng tôi làm việc và những gì chúng tôi đại diện. 

Tầm nhìn của chúng tôi

Chính trực, Thấu hiểu và Không ngừng đổi mới

Chúng tôi trong thập kỷ tới là đối tác pháp lý hàng đầu của các doanh nghiệp tầm trung với các cam kết về sự chính trực, thấu hiểu và không ngừng đổi mới. Đây sẽ là bước đệm cho tương lai dẫn đầu thị trường pháp lý tại Việt Nam.

Khách hàng của chúng tôi

Tận tâm và Chuyên nghiệp

Đồng đội của chúng tôi

Đoàn kết, Đa dạng, Hỗ trợ và Tin tưởng

Môi trường làm việc của chúng tôi

Cởi mở và Tôn trọng sự khác biệt

Công việc của chúng tôi

Tập trung, Quyết tâm, Tham vọng

Cộng đồng xung quanh chúng tôi

Trách nhiệm và Tôn trọng sự đa dạng

Cập nhật mới nhất

BÀI VIẾT

Yêu cầu nâng cao năng lực bảo vệ quyền bản quyền nội dung số dưới áp lực của hiệp định EVFTA

Trong kỷ nguyên số, việc thực thi các quy định pháp luật về quyền tác giả và quyền liên quan đang gặp phải những thách thức vô cùng lớn do phạm vi và tính chất mở của môi trường internet. Trong bối cảnh đó, vai trò của những tổ chức cung cấp dịch vụ trung gian trong việc bảo vệ bản quyền nội dung số phải được xem xét thật thấu đáo. Trước khi bàn đến quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề trên, đọc giả cần được khái quát sơ lược về các thông tin cơ bản của hệ thống thực thi bản quyền ở Việt Nam.

Pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành của Việt Nam được ban hành chủ yếu dựa trên cơ sở của Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) trong khuôn khổ các hiệp định của Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Mặc dù đây cũng là một hiệp định quốc tế quan trọng trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn của hiệp định này vẫn thấp hơn so với các yêu cầu về sở hữu trí tuệ được áp dụng tại Liên Minh Châu Âu. Do đó, việc Việt Nam gia nhập EVFTA đặt ra các yêu cầu về điều chỉnh pháp luật sở hữu trí tuệ trong nước để đảm bảo Việt Nam tuân thủ các cam kết ở mức độ cao của hiệp định thương mại này. 

Xem thêm: Tổng quan một số quy định của Hiệp định thương mại Việt Nam – EU (EVFTA) về lĩnh vực sở hữu trí tuệ và một vài so sánh với pháp luật Việt Nam.

Theo hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam hiện hành, trách nhiệm của các đơn vị cung cấp dịch vụ trung gian trên internet được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi năm 2009, 2019, Luật công nghệ thông tin và các nghị định, thông tư hướng dẫn. Đặc biệt, được thông qua vào năm 2001, Nghị định 55 là văn bản quy phạm pháp luật hướng đến điều chỉnh trách nhiệm pháp lý của bên cung cấp dịch vụ trung gian trực tuyến. Trong hiệp định EVFTA, các vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại chương 12 của Hiệp định. Mục đích của chương này là tạo thuận lợi cho việc chế tạo, sản xuất và thương mại hóa sản phẩm đổi mới và sáng tạo giữa các Bên nhằm đóng góp cho nền kinh tế bền vững và toàn diện hơn của mỗi Bên; và đạt được mức độ bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ đầy đủ và hiệu quả. Ngoài ra, Hiệp định cũng yêu cầu việc bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ phải đóng góp vào việc thúc đẩy đổi mới công nghệ, chuyển giao và phổ biến công nghệ, vì lợi ích chung của các nhà sản xuất và người sử dụng và theo cách thức có lợi cho phúc lợi xã hội và kinh tế, và bảo đảm sự cân bằng giữa các quyền và nghĩa vụ.

Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy vẫn còn một số điểm khác biệt mà pháp luật Việt Nam hiện hành về vấn đề sở hữu trí tuệ cần điều chỉnh để đảm bảo tuân thủ các cam kết về sở hữu trí tuệ trong EVFTA. Đầu tiên, pháp luật Việt Nam hiện vẫn còn thiếu nhiều quy định đặc thù liên quan đến (i) quyền độc quyền của người biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi âm để thực hiện việc công bố tác phẩm của họ đến công chứng; (ii) cơ chế để bảo vệ 169 chỉ dẫn địa lý của EU được liệt kê trong hiệp định; (iii) kéo dài thời hạn bằng sáng chế dược phẩm như là cơ chế bù đấp do việc thẩm định kéo dài và (iv)  giả định về tác giả và chủ sở hữu quyền.

Văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trách nhiệm của các tổ chức cung cấp dịch vụ trung gian internet là luật công nghệ thông tin. Theo đó, luật công nghệ thông tin miễn trừ một cách rõ ràng trách nhiệm cho các tổ chức dịch vụ trung gian trực tuyến trong một số hoàn cảnh nhất định. Để tiếp tục làm rõ việc thực thi luật công nghệ thông tin, Thông tư liên tịch số 07 đã được ban hành. Theo đó, các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông, nhà cung cấp dịch vụ Internet, nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến, nhà cung cấp dịch vụ tìm kiếm thông tin và các công ty cho thuê không gian lưu trữ thông tin kỹ thuật số phải chịu trách nhiệm trực tiếp cho các nội dung vi phạm. Các trường hợp mà những đơn vị này phải chị trách nhiệm bao gồm khi nhà cung cấp dịch vụ:

a) Là nguồn khởi đầu đăng tải, truyền đưa hoặc cung cấp nội dung thông tin số qua mạng viễn thông và Internet mà không được phép của chủ thể quyền;

b) Sửa chữa, cắt xén, sao chép nội dung thông tin số dưới bất kỳ hình thức nào mà không được phép của chủ thể quyền;

c) Cố tình huỷ bỏ hoặc làm vô hiệu hoá các biện pháp kỹ thuật do chủ thể quyền thực hiện để bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan;

d)  Hoạt động như nguồn phân phối thứ cấp các nội dung thông tin số do vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan mà có.

Các quy định trên thể hiện sự ủng hộ của chính phủ cho sự phát triển của môi trường không gian mạng thông qua việc miễn trừ trách nhiệm rất rộng cho các nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến. 

Tóm tắt từ khía cạnh các quy định liên quan đến quyền tác giả và quyền liên quan, có thể thấy rằng, hiện nay các nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến không có nghĩa vụ phải gỡ bỏ những nội dung vi phạm quyền tác giả trừ khi có yêu cầu từ cơ quan có thẩm quyền. 

Tuy nhiên, một điểm mới của EVFTA là Hiệp định này đã quy định cụ thể hơn về trách nhiệm của các tổ chức cung cấp dịch vụ trung gian trên môi trường internet. Cụ thể, Hiệp định này yêu cầu Việt Nam phải quy định giới hạn hoặc miễn trừ  liên quan đến trách nhiệm pháp lý của nhà cung cấp dịch vụ trung gian đối với việc xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan xảy ra trên mạng viễn thông liên quan đến việc cung cấp hoặc sử dụng dịch vụ của các nhà cung cấp dịch vụ trung gian. Giới hạn và miễn trừ ít nhất phải bao gồm những hoạt động sau:

(a) truyền dẫn trong mạng viễn thông các thông tin do người sử dụng dịch vụ cung cấp, hoặc cung cấp truy cập mạng viễn thông (“chỉ truyền dẫn”); và

(b) truyền dẫn trong mạng viễn thông thông tin do người sử dụng dịch vụ cung cấp liên quan đến việc lưu trữ tự động, trung gian và tạm thời các thông tin, được thực hiện chỉ nhằm mục đích làm cho việc truyền tải thông tin hiệu quả hơn đến người sử dụng dịch vụ khác theo yêu cầu của họ (“lưu trữ tạm thời”);

(c) việc lưu trữ thông tin do người sử dụng dịch vụ cung cấp theo yêu cầu của người sử dụng dịch vụ (“cho thuê chỗ lưu trữ”) với điều kiện là nhà cung cấp.

(i) không biết về thông tin bất hợp pháp; và

(ii) khi biết được thông tin đó, hành động nhanh chóng để gỡ bỏ hoặc ngăn chặn các truy cập tới thông tin đó.

Dường như các quy định trên thể hiện rằng EVFTA đang muốn xây dựng cơ chế thông báo-gỡ bỏ mà cộng đồng EU đang ủng hộ thông qua dự luật mới về quyền sở hữu trí tuệ của họ. Theo đó, nếu một trung gian trực tuyến đã biết về sự tồn tại của một nội dung xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên nền tảng của họ, họ buộc phải chịu trách nhiệm cho nội dung xâm phạm đó nếu họ không nhanh chóng ngăn chặn hoặc gỡ bỏ nội dung này. Ngược lại, pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành của Việt Nam cho đến nay vẫn chưa chấp nhận cơ chế thông báo-gỡ bỏ như trên. Do đó, để nội luật hóa các yêu cầu của EVFTA, đòi hỏi các nhà lập pháp phải xây dựng được cơ chế bảo vệ bản quyền tương tự, và thật sự khó khăn, như EVFTA đang yêu cầu.

Read more...

Đăng ký nhãn hiệu tại Indonesia

Việc đăng ký nhãn hiệu tại Indonesia được quy định bởi Luật nhãn hiệu số 15 năm 2001 bởi  Cục Sở hữu trí tuệ (DGIP). Chính phủ Indonesia gần đây đã sửa đổi, bổ sung Luật Nhãn hiệu 2001 và thông qua Luật Nhãn hiệu và Chỉ dẫn địa lý mới số 20 vào ngày 17 tháng 10 năm 2016. Luật nhãn hiệu mới này sẽ có phạm vi bảo hộ nhãn hiệu rộng hơn cũng như đơn giản hóa quy trình đăng ký nhãn hiệu của chủ sở đơn (“Luật Nhãn hiệu”).  

Theo Luật Nhãn hiệu, một “nhãn hiệu” sẽ được tạo thành bởi một dấu hiệu dưới dạng từ ngữ, các con số, chữ cái, màu sắc, số liệu, thành phần, biểu tượng hoặc là một sự kết hợp các yếu tố nói trên nhằm phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ được sản xuất bởi một chủ thể này với chủ thể khác.

Quy trình đăng ký nhãn hiệu sẽ được thực hiện dựa trên Luật Nhãn hiệu mới như sau:

Đơn đăng ký

  • Thẩm định hình thức đơn trong 15 ngày làm việc;
  • Đơn đăng ký cần được thực hiện dưới dạng văn bản bằng Tiếng Indonesia;
  • Điền đầy đủ tên, địa chỉ và quốc tịch của chủ đơn;
  • Miêu tả và giải thích nhãn hiệu về thiết kế và màu sắc;
  • Thanh toán phí cho Cục SHTT Indonesia;
  • Các yêu cầu tối thiểu để xác định ngày nộp đơn.

Xem thêm: Đăng ký nhãn hiệu tại Lào.

Thẩm định nội dung 

  • Nếu không có sự phản đối trong thời gian công bố, đơn đăng ký sẽ bước vào giai đoạn thẩm định nội dung trong 150 ngày làm việc. Trong trường hợp cần thiết, Cục SHTT Indonesia cho phép thuê các chuyên gia bên ngoài để tiến hành thẩm định. Nếu có bất kỳ sự phản đối nào xảy ra, đơn đăng ký sẽ được kiểm tra đồng thời;
  • Việc thẩm định nội dung được thực hiện bởi một giám định được bổ nhiệm bởi Bộ trưởng Bộ Luật và Nhân quyền;
  • Thời gian thẩm định nội dung kéo dài không quá 9 (chín) tháng;
  • Đối với một đơn đăng ký có chứa các yếu tố có thể gây hiểu lầm về loại, chất lượng, mục đích sử dụng của hàng hóa/dịch vụ hoặc yếu tố đã được đăng ký bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu, yếu tố đó sẽ được coi là không thể bảo hộ;
  • Nếu mô tả về hàng hóa/dịch vụ không phù hợp với chất lượng hoặc hiệu quả của hàng hóa/dịch vụ, đơn đăng ký cũng không thể bảo hộ.

Chứng nhận

  • Nếu đơn đăng ký nhãn hiệu vượt qua thành công quá trình thẩm định, Cục SHTT Indonesia sẽ cấp giấy chứng nhận đăng ký và công bố nhãn hiệu trên Công báo Nhãn hiệu chính thức;
  • Trong giai đoạn công bố, bất kỳ cá nhân hoặc pháp nhân nào cũng có thể gửi văn bản phản đối đến Cục SHTT Indonesia;
  • Trong trường hợp từ chối nhãn hiệu, Cục SHTT Indonesia sẽ tiến hành kiểm tra và điều tra lại trong 2 (hai) tháng.

Luật Nhãn hiệu cũng giới thiệu các loại nhãn hiệu mới có thể được bảo hộ theo quy định, bao gồm:

  • Nhãn hiệu 3 chiều;
  • Nhãn hiệu âm thanh;
  • Hình ba chiều tương phản.

Đăng ký nhãn hiệu quốc tế

Luật Nhãn hiệu mới ban hành quy định về quá trình đăng ký nhãn hiệu quốc tế. Quy trình này được thực hiện dựa trên cơ sở Hệ thống đăng ký nhãn hiệu quốc tế theo Nghị định thư Madrid – một hiệp ước quốc tế cho phép chủ sở hữu nhãn hiệu đăng ký nhãn hiệu ở bất kỳ quốc gia thành viên nào của Nghị định thư Madrid.

Xử lý vi phạm Luật Nhãn hiệu

Hiện tại, các hành vi vi phạm nhãn hiệu sẽ bị phạt với mức là 2 tỷ Rupiah. Trong trường hợp hậu quả vi phạm gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, môi trường hay sự sống, mức phạt sẽ là 5 tỷ Rupiah.

Xem thêm: Đăng ký nhãn hiệu tại Cambodia.

Read more...

Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp trên mạng xã hội, xử lí ra sao?

2020 là một năm đầy biến động, đại dịch SARS-CoV-2 khởi nguồn vào khoảng tháng 11 năm 2019 tại thành phố Vũ Hán, Trung Quốc với sự lây lan nhanh chóng của nó đã làm biến đổi hoàn toàn cách thức tương tác của cộng đồng, từ trực tiếp thành trực tuyến, từ kết nối cộng đồng thành giãn cách xã hội… Tuy nhiên, đại dịch cũng tạo nên cơ hội cho bước chuyển mình mạnh mẽ của các doanh nghiệp, áp dụng công nghệ vào hoạt động kinh doanh thương mại, biến môi trường số trở thành công cụ kinh doanh, sinh lợi. Các mạng xã hội như Facebook, Instagram, Twitter… dần trở thành phương tiện giao tiếp, cung cấp thông tin chính giữa các cá nhân và cũng là một trong những công cụ không thể bỏ qua trong hoạt động kinh doanh của thương nhân.

Với việc lan truyền, phát tán thông tin nhanh chóng, dễ dàng, việc tiếp cận và quảng bá sản phẩm/dịch vụ trên diện rộng, các hoạt động kinh doanh online và qua mạng xã hội đang dần trở nên quen thuộc hơn với cả chủ thể kinh doanh và người tiêu dùng. Các mạng xã hội, vì đó, cũng dẫn trở thành một thị trường béo bở cho những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, nhưng không phải doanh nghiệp, thương nhân nào cũng hiểu rõ những biện pháp để tự bảo vệ hoạt động kinh doanh của mình khi thực hiện kinh doanh online, hay khi bị xâm phạm, cạnh tranh không lành mạnh bởi các chủ thể khác trên các trang mạng xã hội. Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả chỉ đưa ra các phân tích, đánh giá phương án xử lý một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh phổ biến trên mạng xã hội đối với các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh thương mại trên cơ sở của pháp luật Việt Nam.

Tung thông tin “bẩn”, không chính xác về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Với số lượng người dùng rất lớn, khả năng truyền tin nhanh, và người dùng thường không kiểm chứng  được tính chính xác của thông tin, mạng xã hội trở thành nơi  thông tin “bẩn”, không chính xác thường được đăng tại tải.  Câu chuyện về chất lượng nguồn nguyên liệu sữa của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) không rõ ràng vào khoảng cuối năm 2019 là một trong những ví dụ điển hình về sức ảnh hưởng của những thông tin “bẩn” đối với các doanh nghiệp. Các đối thủ cạnh tranh chỉ cần đưa ra các thông tin mập mờ về chất lượng nguồn nguyên liệu hay những thông tin thiếu căn cứ về thành phần sản phẩm, dựa vào tốc độ chia sẽ và truyền thông tin nhanh đến chóng mặt và phạm vi truy cập rộng khắp của môi trường số, Vinamilk đã phải đối mặt với nguy cơ mất hàng tỷ đồng vốn hóa trên thị trường chứng khoán. Hay như thông tin lan truyền trên mạng xã hội về những vạch màu tại phần đuôi kem đánh răng thể hiện thành phần có trong loại kem đánh răng đó là có nguồn gốc tự nhiên hay hóa học cũng gây hoang mang dư luận và tâm lý người tiêu dùng, làm ảnh hưởng đến doanh số bán hàng của các hãng sản xuất kem đánh răng như P/S, Coggate trong một thời gian. 

Hiện nay, việc xử lý hành vi đăng tải thông tin không chính xác trên các trang mạng xã hội đã được Chính Phủ Việt Nam quy định cụ thể tại Nghị định số 15/2020/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử, trong đó:

Các hành vi lợi dụng mạng xã hội để:

  • Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân;
  • Cung cấp, chia sẻ thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân, kích động bạo lực, tội ác, tệ nạn xã hội, đánh bạc hoặc phục vụ đánh bạc.

Có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng theo quy định tại Điều 101, Nghị định số 15/2020/NĐ-CP, hoặc tùy vào mức độ và hành vi đăng thông tin sai sự thật, các tổ chức/cá nhân đăng tin có thể bị xử lý về hành vi cung cấp thông tin không trung thực về doanh nghiệp khác theo quy định tại Khoản 1,2 Điều 18 Nghị định 75/2019/NĐ-CP với mức phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng. Tổ chức, cá nhân bị ảnh hưởng bởi các hành vi đăng tải thông tin sai sự thật, có thể yêu cầu cơ quan công an hoặc ủy ban nhân dân xử lý các hành vi đăng tải thông tin sai sự thật nêu trên.

>> Xem thêm: Sửa đổi Luật sở hữu trí tuệ: Bảo vệ quyền tác giả trong bối cảnh kinh tế nền tảng.

Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp trên mạng xã hội

Bên cạnh hành vi tung tin giả gây ảnh hưởng đến hoat động kinh doanh của doanh nghiệp, viêc lập những trang mạng xã hội với các dấu hiệu, biểu tượng trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu, tên thương mại, dấu hiệu nhận diện của các doanh nghiệp khác để kinh doanh mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu của các nhãn hiệu, tên thương mại, dấu hiệu đó cũng là một trong những hành vi vi phạm phổ biến hiện nay.

Các hành vi này có thể bị coi là hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đã được bảo hộ nếu các nhãn hiệu, tên thương mại, dấu hiệu nhận diện đó đã được doanh nghiệp đăng ký bảo hộ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc cạnh tranh không lành mạnh theo quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ, bao gồm:

Điều 130. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh

1. Các hành vi sau đây bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh:

a) Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ;

b) Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ;

….

2. Chỉ dẫn thương mại quy định tại khoản 1 Điều này là các dấu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hoá, dịch vụ, bao gồm nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hoá, nhãn hàng hoá. 

3. Hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm các hành vi gắn chỉ dẫn thương mại đó lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch kinh doanh, phương tiện quảng cáo; bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu hàng hoá có gắn chỉ dẫn thương mại đó.”

Khi gặp phải các hành vi xâm phạm đối với các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ của mình trên các trang mạng xã hội, doanh nghiệp có thể thực hiện việc báo cáo hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức/ cá nhân nêu trên với các đơn vị quản lý mạng xã hội để yêu cầu xóa bỏ nội dung vi phạm hoặc khóa tài sản vi phạm. Bên cạnh đó, tổ chức/ cá nhân bị vi phạm cũng có thể yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền như công an, ủy ban nhân dân tiếp nhận và tiến hành xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và/hoặc vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến đối tượng quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật, với mức yêu cầu xử phạt có thể lên đến 20.000.000 đồng theo quy định tại Nghị Định 99/2013/NĐ-CP về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.

Các hành vi nêu trên đây mới chỉ là hai trong số rất rất nhiều phương thức cạnh tranh không lành mạnh xuất hiện trên thực tế, và mỗi hành vi, tùy vào đối tượng bị xâm phạm cũng như cách thức thực hiện, sẽ có thể bị xử lý theo các quy định khác nhau. Trong kinh doanh, cạnh tranh là điều không thể tránh, tuy nhiên thương nhân cần nhận biết được hành vi nào là cạnh tranh không lành mạnh để tránh, cũng như cách thức để xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhằm giảm thiểu thiệt hại của mình.

 

Read more...