Giao dịch đáng chú ý gần đây

Apolat Legal đã tư vấn nhiều giao dịch định hình thị trường trên một loạt các ngành công nghiệp trong lĩnh vực năng lượng, thương mại điện tử, công nghệ, bán lẻ, hậu cần, bất động sản, …

Xem thêm

Sáp nhập và đầu tư

  • Đầu tư nước ngoài
  • Tuân thủ pháp luật
  • Mua bán & Sáp nhập
  • Chi tiết

Thương mại trong và ngoài nước

  • Thương mại quốc tế
  • Mua bán
  • Phân phối
  • Chi tiết

Giải quyết tranh chấp

Lao động

  • Lao động quốc tế
  • Phúc lợi
  • Quản lý nhân sự
  • Chi tiết

Sở hữu trí tuệ

  • Nhượng quyền thương mại
  • Nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp
  • Bản quyền và bằng sáng chế
  • Chi tiết

Bất động sản

  • Bất động sản
  • Cơ sở hạ tầng
  • Giao dịch thuê
  • Chi tiết

Chúng tôi luôn tin rằng

Tại Apolat Legal, sự đa dạng, hòa nhập và bình đẳng là một phần trong cách sống và giá trị của chúng tôi.

Chúng tôi áp dụng các giá trị vào tất cả các hoạt động của chúng tôi trên toàn cầu. Các giá trị đó phản ánh văn hóa và tính cách của chúng tôi cả bên trong lẫn bên ngoài, cách chúng tôi làm việc và những gì chúng tôi đại diện. 

Tầm nhìn của chúng tôi

Chính trực, Thấu hiểu và Không ngừng đổi mới

Chúng tôi trong thập kỷ tới là đối tác pháp lý hàng đầu của các doanh nghiệp tầm trung với các cam kết về sự chính trực, thấu hiểu và không ngừng đổi mới. Đây sẽ là bước đệm cho tương lai dẫn đầu thị trường pháp lý tại Việt Nam.

Khách hàng của chúng tôi

Tận tâm và Chuyên nghiệp

Đồng đội của chúng tôi

Đoàn kết, Đa dạng, Hỗ trợ và Tin tưởng

Môi trường làm việc của chúng tôi

Cởi mở và Tôn trọng sự khác biệt

Công việc của chúng tôi

Tập trung, Quyết tâm, Tham vọng

Cộng đồng xung quanh chúng tôi

Trách nhiệm và Tôn trọng sự đa dạng

Cập nhật mới nhất

TIN TỨC VÀ CẬP NHẬT PHÁP LÝ

[Cập nhật pháp lý] Thư cập nhật nhanh thông tin pháp lý tháng 9, 2020

1/ Bộ Công thương vừa ban hành Thông tư số 21/2020/TT-BCT ngày 09/9/2020 quy định về trình tự cấp giấy phép hoạt động điện lực 

Thông tư số 21/2020/TT-BCT quy định về trình tự, thủ tục cấp giấy phép hoạt động điện lực, thời hạn của giấy phép hoạt động điện lực trong các lĩnh vực tư vấn thiết kế công trình, phát điện, phân phối điện, bán buôn điện và bán lẻ điện. Theo Thông tư này, các trường hợp sau đây sẽ được miễn trừ giấy phép hoạt động điện lực:

  • Phát điện để tự sử dụng không bán điện cho tổ chức, cá nhân khác;
  • Phát điện có công suất lắp đặt đến 01 MW để bán điện cho tổ chức, cá nhân khác;
  • Kinh doanh điện tại vùng nông thôn, miền núi, hải đảo mua điện với công suất nhỏ hơn 50 kVA từ lưới điện phân phối để bán điện trực tiếp tới khách hàng sử dụng điện tại vùng nông thôn, miền núi, hải đảo;
  • Điều độ hệ thống điện quốc gia và điều hành giao dịch thị trường điện lực.

Đối với các trường hợp phải xin cấp giấy phép hoạt động điện lực, thời hạn tối đa trong giấy phép hoạt động điện lực được lực quy định như sau:

TT Lĩnh vực hoạt động điện lực Thời hạn của giấy phép 
1 Tư vấn chuyên ngành điện lực 05 năm
2 Phát điện
a) Nhà máy điện lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh theo danh mục được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt 20 năm
b) Nhà máy điện không thuộc danh mục nhà máy điện lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt 10 năm
3 Truyền tải điện 20 năm
4 Phân phối điện 10 năm
5 Bán buôn điện, bán lẻ điện 10 năm

Thẩm quyền cấp Giấy phép hoạt động điện lực:

  • Bộ Công Thương cấp giấy phép hoạt động điện lực đối với hoạt động truyền tải điện và hoạt động phát điện đối với nhà máy điện lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh trong danh mục được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;
  • Cục Điều tiết điện lực cấp giấy phép hoạt động điện lực đối với hoạt động phân phối điện, bán buôn điện, bán lẻ điện, tư vấn chuyên ngành điện lực và hoạt động phát điện đối với nhà máy điện có quy mô công suất từ 03 MW trở lên không thuộc trường hợp do Bộ Công thương cấp;
  • Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp hoặc uỷ quyền cho Sở Công Thương cấp giấy phép hoạt động điện lực đối với các lĩnh vực sau:
  • Hoạt động phát điện đối với nhà máy điện có quy mô công suất dưới 03 MW đặt tại địa phương
  • Hoạt động phân phối điện đến cấp điện áp 35 kV tại địa phương
  • Hoạt động bán lẻ điện đến cấp điện áp 0,4 kV tại địa phương
  • Tư vấn chuyên ngành điện lực, bao gồm (i) Tư vấn thiết kế công trình đường dây và trạm biến áp có cấp điện áp đến 35 kV, đăng ký doanh nghiệp tại địa phương; và (ii) Tư vấn giám sát thi công công trình đường dây và trạm biến áp có cấp điện áp đến 35 kV, đăng ký doanh nghiệp tại địa phương.

Thông tư số 21/2020/TT-BCT sẽ có hiệu lực kể từ ngày 26 tháng 10 năm 2020.

2/ Chính phủ thống nhất với đề xuất của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh trong bối cảnh đại dịch Covid-19

Nghị quyết số 129/NQ-NP ngày 11 tháng 09 năm 2020, Chính phủ thống nhất với đề xuất của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Văn phòng Chính phủ về việc tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh trong bối cảnh đại dịch Covid-19. Cụ thể như sau:

  • Cho phép gia hạn thời gian hoàn thành việc lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải, khí thải tự động, liên tục quy định tại Khoản 20 và Khoản 23 Điều 3 Nghị định số 40/2019/NĐ-CP đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2021.
  • Cho phép gia hạn đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2021 đối với Giấy phép xử lý chất thải nguy hại (đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp cho doanh nghiệp) thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 39 Điều 3 Nghị định số 40/2019/NĐ-CP, đồng thời không phải lập lại báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đã được phê duyệt nếu không thay đổi địa điểm, tăng quy mô công suất theo quy định tại Điều 20 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.
  • Cho phép gia hạn đến hết ngày ngày 31 tháng 12 năm 2021 đối với Giấy xác nhận đủ điều kiện bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 39 Điều 3 Nghị định số 40/2019/NĐ-CP, đồng thời không phải lập lại ĐTM đã được phê duyệt nếu không thay đổi địa điểm, tăng quy mô công suất theo quy định tại Điều 20 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.

Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện.

Tải Cập nhật pháp lý tại đây.

Read more...

[Cập nhật pháp lý] Cập nhật một số điểm mới bổ sung trong quy định về đăng ký đầu tư theo Luật Đầu tư 2020

1/ Bộ Xây dựng vừa ban hành công văn số 4308/BXD-HĐXD về việc quản lý đầu tư xây dựng dự án có bố trí căn hộ lưu trú, văn phòng kết hợp lưu trú, biệt thự nghỉ dưỡng, nhà ở thương mại liên kế 

Trong những năm vừa qua, nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường bất động sản, nhiều các loại hình bất động sản mới như căn hộ lưu trú/du lịch, văn phòng kết hợp lưu trú, biết thự nghỉ dưỡng/du lịch, nhà ở thương mại liên kế đã xuất hiện. Cùng với việc quản lý đầu tư xây dựng theo quy định pháp luật hiện hành, các hành lang pháp lý mới cũng đang được tiếp tục hoàn thiện bởi các bộ ngành để điều chỉnh các yếu tố đặc thù của các loại hình bất động sản mới này, cụ thể:

  • Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có Quyết định số 3720/QĐ-BVHTTDL ngày 28/10/2019 ban hành Quy chế quản lý, kinh doanh loại hình căn hộ du lịch và biệt thự du lịch.
  • Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có văn bản số 703/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 14/02/2020 hướng dẫn chế độ sử dụng đất và việc chứng nhận quyền sở hữu công trình không phải nhà ở.
  • Bộ Xây dựng đã có văn bản số 276/BXD-QLN ngày 20/01/2020 gửi UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc quản lý đầu tư, xây dựng, kinh doanh căn hộ du lịch, biệt thự du lịch; đề nghị thực hiện công tác quản lý đầu tư, xây dựng, cấp GCN quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo đúng quy định pháp luật hiện hành, đảm bảo phù hợp quy hoạch được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, lưu ý xem xét thận trọng việc chuyển đổi công năng, mục đích sử dụng công trình thương mại, dịch vụ thành nhà ở. Bên cạnh đó, Bộ Xây dựng cũng đã ban hành các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho từng loại hình bất động sản này. Đồng thời Bộ Xây dựng cũng đã soạn thảo để Bộ Khoa học và Công nghệ công bố các tiêu chuẩn quốc gia để đưa ra các yêu cầu chung về thiết kế cho các loại hình công trình này.

Tuy nhiên, trong quá trình đầu tư, xây dựng, vận hành các công trình bất động sản nêu trên, vẫn còn một số vấn đề còn tồn tại, chưa được giải quyết hiệu quả liên quan đến: các đồ án quy hoạch xây dựng đã xác định chức năng lưu trú nhưng chưa tính toán cụ thể về dân số; bất cập, vướng mắc trong vận hành, quản lý sử dụng tòa nhà có nhiều chủ sở hữu, chủ sử dụng, vận hành khai thác; cấp giấy tờ sở hữu, chuyển đổi công năng, mục đích sử dụng.

Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và khắc phục các vấn đề còn tồn tại, Bộ Xây dựng đề nghị UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo trong quản lý xây dụng, thực thi thủ tục hành chính các dự án bất động sản nêu trên cần lưu ý một số nội dung sau:

(i) Khi thẩm định, phê duyệt quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết xây dựng cần đảm bảo tuân thủ hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hiện hành, làm rõ quy mô về diện tích sàn xây dựng, số lượng căn, chỉ tiêu dân số.

(ii) Khi quyết định chủ trương đầu tư, cần đảm bảo tính thống nhất về mục đích đầu tư, mục đích sử dụng đất với chức năng của công trình, phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương.

(iii) Cân nhắc công tác cấp mới các thủ tục pháp lý cho phép đầu tư xây dựng (phê duyệt quy hoạch, quyết định chủ trương các dự án đầu tư).

(iv) Khi thực hiện thẩm định dự án, thiết kế xây dựng, cấp phép xây dựng, kiểm tra công tác nghiệm thu cần kiểm tra, rà soát kỹ các cơ sở pháp lý về quy hoạch xây dựng, chủ trương đầu tư, đánh giá việc tuân thủ hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đặc biệt là các tiêu chuẩn, kỹ thuật mới được ban hành. Liên hệ cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng tại địa phương để biết thêm thông tin về dân số. Thông báo kết quả thẩm định, kiểm tra công tác nghiệm thu đến cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng tại địa phương để quản lý trong quá trình triển khai dự án.

 2/ Cập nhật một số điểm mới bổ sung trong quy định về đăng ký đầu tư theo Luật Đầu tư 2020

(i) Tại Khoản 1 Điều 22 Luật Đầu Tư 2020 quy định nhà đầu tư nước ngoài không cần thực hiện thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư trong trường hợp thành lập doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo và quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo theo quy định của pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Luật hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ 2017, Doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo là doanh nghiệp nhỏ và vừa được thành lập để thực hiện ý tưởng trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới và có khả năng tăng trưởng nhanh. Theo đó, để trở thành doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo cần phải đáp ứng các điều kiện:

  • Là Doanh nghiệp nhỏ và Vừa. Theo quy định tại Điều 4 Luật hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ 2017, Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: 
    • Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng;
    • Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng.
  • Doanh nghiệp được thành lập để thể hiện ý tưởng trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới;
  • Có khả năng tăng trưởng nhanh.

Quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo: Theo quy định Khoản 2 Điều 2 Nghị định 38/2018/NĐ-CP thì Quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo là quỹ được hình thành từ vốn góp của các nhà đầu tư tư nhân để thực hiện đầu tư khởi nghiệp sáng tạo. Việc đầu tư thành lập quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo mọi người có thể tham khảo quy định tại Nghị định 38/2018/ NĐ-CP ngày 11/03/2018 quy định chi tiết về đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

(ii) Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào tổ chức kinh tế

Luật Đầu Tư 2014 quy định chung Nhà đầu tư thực hiện thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế khi góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài hoặc Việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp dẫn đến nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật này nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên của tổ chức kinh tế.

Luật Đầu Tư 2020 quy định cụ thể hơn các trường hợp Nhà Đầu Tư nước ngoài thực hiện thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế khi:

  • Việc góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp làm tăng tỷ lệ sở hữu của các NĐ NN tại tổ chức kinh tế kinh doanh ngành, nghề tiếp cận thị trường có điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài; hoặc 
  • Việc góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp dẫn đến việc nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 23 của Luật này nắm giữ trên 50% vốn điều lệ của tổ chức kinh tế trong các trường hợp: tăng tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của NĐT NN từ dưới hoặc bằng 50% lên trên 50%; tăng tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài khi nhà đầu tư nước ngoài đã sở hữu trên 50% vốn điều lệ trong tổ chức kinh tế; hoặc
  • Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại đảo và xã, phường, thị trấn biên giới; xã, phường, thị trấn ven biển; khu vực khác có ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh.  

Hiện tại Luật Đầu tư 2020 đang chờ có hiệu lực (ngày 01/01/2021), do đó, để thực hiện hồ sơ đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài cần chờ các Nghị định cung cấp hướng dẫn và biểu mẫu cụ thể.

Tải Cập nhật pháp lý tại đây.

Read more...

[Tin tức] Apolat Legal chính thức trở thành thành viên của Hiệp hội Bảo vệ Sở hữu Trí tuệ Quốc tế

Tháng 8/2020, Apolat Legal chính thức trở thành thành viên của Hiệp hội Bảo vệ Sở hữu Trí tuệ Quốc tế (AIPPI).

AIPPI là hiệp hội phi lợi nhuận hàng đầu thế giới dành riêng cho việc phát triển và cải thiện luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. AIPPI là một tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở tại Thụy Sĩ với khoảng 9000 thành viên trên toàn thế giới từ hơn 125 quốc gia.

Ở Việt Nam, nhóm đã hoạt động dưới sự bảo trợ của Hội Sở hữu trí tuệ Việt Nam trong nhiều hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ như đào tạo, tư vấn và phản biện, hợp tác trong nước và quốc tế.

Một trong những hoạt động quan trọng nhất của AIPPI tại Việt Nam là tập trung vào hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc xây dựng và phát triển tài sản sở hữu trí tuệ giúp doanh nghiệp ngày càng phát triển, đó cũng là một trong những hoạt động mà Apolat Legal hướng đến.

Read more...

BÀI VIẾT

Các vấn đề cần lưu ý đối với thỏa thuận trọng tài trong các hợp đồng thương mại

Trong xu thế hiện nay, các tổ chức kinh tế khi giao kết hợp đồng thương mại thường lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại. Với ưu điểm là sự chủ động về thời gian, địa điểm giải quyết tranh chấp, quyền chủ động chọn luật áp dụng, tính bảo mật thông tin cao cũng như sự linh hoạt, mềm dẻo trong việc lựa chọn ngôn ngữ áp dụng khiến trọng tài thương mại trở thành một phương thức giải quyết tranh chấp vượt trội. Tuy nhiên, đã có nhiều trường hợp các bên chọn trọng tài thương mại là cơ quan giải quyết khi có tranh chấp, nhưng đến khi xảy ra tranh chấp thì cơ quan trọng tài được chọn không có thẩm quyền giải quyết vụ việc do thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thể thực hiện được. Bài viết này đề cập đến các vấn đề cần lưu ý của điều khoản trọng tài trong hợp đồng thương mại.

Theo quy định của Luật Trọng Tài Thương Mại “Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp[1]. Do đó , việc hình thành một thỏa thuận trọng tài là điều kiện tiên quyết và bắt buộc làm căn cứ phát sinh thẩm quyền giải quyết của Trọng tài. Một thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức một điều khoản cụ thể tại hợp đồng thương mại hoặc thỏa thuận độc lập bằng văn bản hoặc hình thức tương đương văn bản[2]. Thỏa thuận trọng tài sẽ vẫn có hiệu lực kể cả khi hợp đồng có thay đổi, gia hạn, hủy bỏ, bị vô hiệu toàn phần hoặc không thể thực hiện được. Tuy nhiên, thỏa thuận trọng tài thương mại sẽ bị vô hiệu trong các trường hợp:

  • Thỏa thuận trọng tài được xác lập để giải quyết tranh chấp không thuộc lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Trọng tài;
  • Người xác lập thỏa thuận trọng tài không phải là người đại diện theo pháp luật hoặc không phải là người được ủy quyền hợp pháp hoặc là người được ủy quyền hợp pháp nhưng vượt quá phạm vi được ủy quyền, trừ trường hợp trong quá trình xác lập, thực hiện thỏa thuận trọng tài hoặc trong tố tụng trọng tài mà người có thẩm quyền xác lập đã chấp nhận hoặc đã biết mà không phản đối;
  • Người xác lập thỏa thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự, bao gồm: người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người hạn chế năng lực hành vi dân sự;
  • Thỏa thuận trọng tài không được xác lập bằng một trong các hình thức quy định;
  • Một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài;
  • Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.

Ngoài ra, các bên cần lưu ý các vấn đề sau đây để tránh trường hợp thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được[3]:

  • Trung tâm trọng tài được các bên thỏa thuận đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức kế thừa và các bên không thể thỏa thuận được Trung tâm trọng tài khác giải quyết;
  • Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan dẫn đến Trọng tài viên không thể tham gia giải quyết tranh chấp; hoặc Trung tâm trọng tài, Tòa án không thể tìm được Trọng tài viên như các bên thỏa thuận và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế;
  • Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, Trọng tài viên từ chối việc được chỉ định hoặc Trung tâm trọng tài từ chối việc chỉ định Trọng tài viên và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế;
  • Các bên có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài nhưng lại thỏa thuận áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác và điều lệ của Trung tâm trọng tài do các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp không cho phép áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác và các bên không thỏa thuận được về việc lựa chọn Quy tắc tố tụng trọng tài thay thế;
  • Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng có điều khoản về thỏa thuận trọng tài được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn quy định tại Điều 17 Luật Trọng Tài Thương Mại nhưng khi phát sinh tranh chấp, người tiêu dùng không đồng ý lựa chọn Trọng tài giải quyết tranh chấp.

Trong trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thực hiện được, thẩm quyền giải quyết đương nhiên thuộc về Tòa án. Theo đó, một trong các bên được quyền khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu giải quyết tranh chấp.

Bên cạnh đó, theo kinh nghiệm thực tế và các hoạt động xét xử tại Việt Nam, điều khoản trọng tài nên lưu ý thêm một số các nội dung sau:

  • Thứ nhất, trong trường hợp các bên đã có thỏa thuận trọng tài bằng một điều khoản trọng tài cụ thể nhưng tại điều khoản này không đề cập đến hình thức trọng tài (Trọng tài vụ việc hay Trọng tài thường trực) hoặc không xác định được chính xác tên của tổ chức trọng tài thì pháp luật trọng tài cho phép các bên được quyền thỏa thuận lại. Tuy nhiên, nếu các bên tranh chấp không tìm được tiếng nói chung thì tổ chức trọng tài và hình thức trọng tài tương ứng sẽ được thực hiện theo yêu cầu của Nguyên đơn (bên khởi kiện).[4];
  • Thứ hai, như đề cập tại phần đầu bài viết, việc được lựa chọn luật áp dụng là một trong những ưu điểm của trọng tài thương mại. Tuy nhiên, việc chọn luật áp dụng phải tuân theo nguyên tắc tranh chấp không có yếu tố nước ngoài thì áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết, và những tranh chấp có yếu tố nước ngoài thì áp dụng pháp luật do các bên lựa chọn. Nếu các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì Hội đồng trọng tài quyết định áp dụng pháp luật cho là phù hợp nhất[5];
  • Thứ ba, mặc dù các bên được quyền lựa chọn ngôn ngữ trong tố tụng trọng tài, nhưng cần lưu ý rằng đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài ngôn ngữ được sử dụng là tiếng Việt, trừ tranh chấp có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài thì ngôn ngữ sử dụng do các bên thỏa thuận[6];
  • Cuối cùng, trọng tài thương mại cho phép lựa chon địa điểm giải quyết tranh chấp trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam. Đây là điểm cần lưu ý để các bên có thể giảm thiểu chi phí phát sinh trong quá trình tham gia tố tụng. Trường hợp không có thoả thuận về địa điểm giải quyết tranh chấp thì Hội đồng trọng tài sẽ có quyền quyết định địa điểm[7].

Việc không quy định các vấn đề nêu trên tại điều khoản trọng tài từ đầu sẽ không làm cho thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu hay không thể thực hiện được. Tuy vậy, nếu điều khoản trọng tài càng rõ ràng và chi tiết sẽ hạn chế việc các bên không đồng nhất các tiêu chí cần bổ sung dẫn đến sự bị động của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại. Đồng thời, việc xác định rõ các tiêu chí giải quyết tranh chấp sẽ giúp các bên chủ động hơn khi phát sinh tranh chấp.

Xin đề cập thêm rằng, thực tiễn cũng tồn tại việc các bên vừa thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại vừa tại tòa án. Trường hợp này, nếu thỏa thuận Trọng tài không vô hiệu và có thể thực hiện được thì các bên vẫn được quyền nộp đơn khởi kiện tại cơ quan trọng tài. Tuy nhiên, nếu đã có đơn khởi kiện tại Tòa án và Tòa án đã thụ lý giải quyết theo thủ tục chung mà không có bất kỳ hành động khởi kiện tại Trọng tài nào trước đó thì đương nhiên Trọng tài không còn thẩm quyền giải quyết[8].

Tóm lại, để điều khoản trọng tài có hiệu lực pháp lý và là cơ sở để giải quyết tranh chấp tại cơ quan Trọng tài, các bên nên lưu ý các nội dung được đề cập tại bài viết này cũng như tham khảo các điều khoản mẫu của các cơ quan trọng tài.

[1] Khoản 1, Điều 5, Luật Trọng tài thương mại 2010 (“Luật TTTM”).

[2] Khoản 1, Điều 16, Luật TTTM.

[3] Điều 4, Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP.

[4] Khoản 5, Điều 43, Luật TTTM.

[5] Điều 14, Luật TTTM.

[6] Điều 10, Luật TTTM.

[8] Điểm b, khoản 4, Điều 2, Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP.

Read more...

Quy định pháp luật về cho thuê lại lao động theo quy định của Bộ luật Lao động 2019

Theo quy định của bộ luật lao động hiện hành – Bộ luật Lao động năm 2012 và bộ luật lao động mới – Bộ luật Lao động 2019 sẽ có hiệu lực vào ngày 01/01/2021 đều ghi nhận và thừa nhận rằng người sử dụng lao động có quyền trực tiếp hoặc thông qua tổ chức dịch vụ việc làm, doanh nghiệp hoạt động cho thuê lại lao động để tuyển dụng lao động theo nhu cầu của người sử dụng lao động.[1] Phương thức tuyển dụng thông qua doanh nghiệp cho thuê lại lao động là một phương thức tuyển dụng đặc biệt. Cho thuê lao động được pháp luật lao động quy định cụ thể. Đối với những nội dung cơ bản của hợp đồng lao động khi người sử dụng lao động – người lao động – doanh nghiệp cho thuê lại lao động đều có những quyền, nghĩa vụ khác biệt đáng kể. Chính vì lý do đó, bài viết này sẽ nêu và phân tích cơ bản một số nội dung liên quan đến cho thuê lại lao động.

1. Cho thuê lại lao động là gì?

Căn cứ khoản 1 Điều 52 Bộ luật Lao động 2019, cho thuê lại lao động là việc người lao động giao kết hợp đồng lao động với một người sử dụng lao động là doanh nghiệp cho thuê lại lao động, sau đó người lao động được chuyển sang làm việc và chịu sự điều hành của người sử dụng lao động khác mà vẫn duy trì quan hệ lao động với người sử dụng lao động đã giao kết hợp đồng lao động.

2. Nguyên tắc hoạt động cho thuê lại lao động

Dựa vào định nghĩa nêu trên, tính chất của cho thuê lại lao động cho thấy rằng đây là mối quan hệ có tính chất phức tạp – mối quan hệ lao động 03 bên khi mà người lao động được chuyển sang làm việc và chịu sự điều hành của người sử dụng lao động khác mà vẫn duy trì quan hệ lao động với người sử dụng lao động đã giao kết hợp đồng lao động ban đầu. Do đó, nguyên tắc hoạt động cho thuê lại lao động được quy định tại Bộ luật Lao động 2019 như sau:[2]

Thứ nhất, thời hạn cho thuê lại lao động đối với người lao động tối đa là 12 tháng.

Thứ hai, bên thuê lại lao động được sử dụng lao động thuê lại trong trường hợp sau đây:

  • Đáp ứng tạm thời sự gia tăng đột ngột về nhu cầu sử dụng lao động trong khoảng thời gian nhất định;
  • Thay thế người lao động trong thời gian nghỉ thai sản, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc phải thực hiện các nghĩa vụ công dân;
  • Có nhu cầu sử dụng lao động trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao.

Thứ ba, bên thuê lại lao động không được sử dụng lao động thuê lại trong trường hợp sau đây:

  • Để thay thế người lao động đang trong thời gian thực hiện quyền đình công, giải quyết tranh chấp lao động;
  • Không có thỏa thuận cụ thể về trách nhiệm bồi thường tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp của người lao động thuê lại với doanh nghiệp cho thuê lại lao động;
  • Thay thế người lao động bị cho thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ, vì lý do kinh tế hoặc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập.

Thứ tư, bên thuê lại lao động không được chuyển người lao động thuê lại cho người sử dụng lao động khác; không được sử dụng người lao động thuê lại được cung cấp bởi doanh nghiệp không có Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động.

3. Điều kiện để doanh nghiệp thực hiện hoạt động cho thuê lại lao động[3]

Theo quy định của pháp luật hoạt động cho thuê lại lao động là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, chỉ được thực hiện bởi các doanh nghiệp có Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động và áp dụng đối với một số công việc nhất định. Ngoài ra, doanh nghiệp cho thuê lại lao động phải ký quỹ và được cấp Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động.

4. Hợp đồng cho thuê lại lao động[4]

Bộ luật lao động 2019 quy định doanh nghiệp cho thuê lại lao động và bên thuê lại lao động phải ký kết hợp đồng cho thuê lại lao động bằng văn bản và được làm thành 02 bản, mỗi bên giữ 01 bản.

Nội dung chủ yếu của hợp đồng cho thuê lại lao động bao gồm:

  • Địa điểm làm việc, vị trí việc làm cần sử dụng lao động thuê lại, nội dung cụ thể của công việc, yêu cầu cụ thể đối với người lao động thuê lại;
  • Thời hạn thuê lại lao động, thời gian bắt đầu làm việc của người lao động thuê lại;
  • Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, điều kiện an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc.
  • Trách nhiệm bồi thường tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
  • Nghĩa vụ của mỗi bên đối với người lao động.

Đối chiếu với quy định của Bộ luật lao động 2012 về hợp đồng lao động, nhìn chung các điều khoản chủ yếu được quy định trong hợp đồng cho thuê lại lao động đều được kế thừa từ Bộ luật lao động 2012. Tuy nhiên, điều khoản về trách nhiệm bồi thường tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đã được thêm vào nhằm nâng cao trách nhiệm cho bên thuê lại lao động đối với người lao động làm việc trực tiếp với họ. Điều này sẽ góp phần bảo vệ quyền lợi cho người lao động khi làm việc trong môi trường khắc nghiệt có ảnh hưởng đến sức khỏe.

Hiện tại, Bộ luật lao động 2019 vẫn chưa chính thức có hiệu lực, do đó Bộ luật lao động 2012 vẫn còn được áp dụng. Về chi tiết quy định việc ký quỹ, điều kiện, trình tự, thủ tục cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động và danh mục công việc được thực hiện cho thuê lại lao động sẽ được Chính phủ hướng dẫn chi tiết để thực hiện.

[1] Điều 11 Bộ luật lao động 2012;

Khoản 1 Điều 11 Bộ luật lao động 2019.

[2] Điều 53 Bộ luật lao động 2019.

[3] Điều 54 Bộ luật lao động 2019.

[4] Điều 55 Bộ luật lao động 2019.

Read more...

Nỗ lực tốt nhất trong thực hiện hợp đồng

Hợp đồng là một thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều bên, thường được thể hiện bằng văn bản, quy định các điều khoản và điều kiện của một thỏa thuận. Tầm quan trọng của hợp đồng bằng văn bản là không thể phủ nhận, đặc biệt đối với các giao dịch có giá trị cao, bởi vì nó được xem là cơ sở để các bên có tên trong hợp đồng thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình một cách công bằng và cụ thể. Theo đó, một hợp đồng luôn được soạn thảo theo hướng chi phối hành vi của các bên trong càng nhiều sự kiện có thể xảy ra càng tốt và từ ngữ hợp đồng cũng cần phải chính xác và có ý nghĩa. Điều này giải thích tại sao một số công ty sẵn sàng trả một số tiền đáng kể cho luật sư để soạn thảo hợp đồng.

Tuy nhiên trên thực tế, việc thực hiện một thỏa thuận đôi khi sẽ không giống với kỳ vọng của các bên tại thời điểm họ ký. Điều này là do các bên không thể dự đoán trước một cách chắc chắn và toàn bộ sự xuất hiện của các sự kiện khách quan, cũng như thay đổi năng lực của các bên trong thời gian thực hiện hợp đồng. Có những nghĩa vụ có thể định lượng được hoặc trong đó các kết quả có thể được xác định rõ ràng để các bên có thể dễ dàng đặt ra yêu cầu chính xác cho việc thực hiện. Trong khi đó, có một số nghĩa vụ, đặc biệt là trong các sự kiện bất khả kháng, hậu quả hầu như không thể đo lường được. Do đó, yêu cầu một kết quả cố định cho các nghĩa vụ đó tại thời điểm ký kết hợp đồng được xem là không hợp lý. Trong những trường hợp như vậy, một bên chỉ có thể yêu cầu các bên có nghĩa vụ, bằng những nỗ lực tốt nhất, tìm kiếm giải pháp cho trách nhiệm của họ.

Thực tế, không khó để gặp một hợp đồng với các điều khoản mà trong đó, các bên đưa ra lời hứa thực hiện nghĩa vụ của mình với những nỗ lực tốt nhất. Đối với đa số mọi người, những điều khoản như vậy không có gì để xem xét và đàm phán. Có lẽ, họ cảm thấy không cần phải quan tâm, hoặc chỉ đơn giản là niềm tin vào đối tác của họ đủ mạnh để bỏ qua tiêu chí đánh giá những nỗ lực tốt nhất. Ngược lại, một số người lại xem xét tiêu chuẩn cho “nỗ lực tốt nhất” một cách cẩn thận, đặc biệt là với các giao dịch có giá trị và rủi ro cao. Ngay cả khi nhận thức được những từ này chỉ là định tính, họ vẫn muốn làm rõ các tiêu chí hoặc phạm vi để xem xét việc thực hiện của các bên khác theo hợp đồng thực sự là những nỗ lực tốt nhất trên thực tế hay không.

Từ góc độ ngôn ngữ, nỗ lực tốt nhất có thể được hiểu là “việc đòi hỏi người có nghĩa vụ phải làm mọi thứ trong khả năng của mình để thực hiện nghĩa vụ, bao gồm chi tiêu và thực hiện không giới hạn số tiền, thời gian và công sức, đến mức có thể gây bất kỳ thiệt hại cho bên có nghĩa vụ” [1]. Tuy nhiên, áp dụng cách hiểu này vào thực tiễn pháp lý là làm khó cho người thực hiện nghĩa vụ. Về mặt thuật ngữ pháp lý, không có định nghĩa cụ thể hoặc cách giải thích chính xác nhất cho từ “nỗ lực tốt nhất”. Thực tế, đưa ra một chuẩn mực xác định để đánh giá nỗ lực tốt nhất về hiệu suất hợp đồng của các bên là không khả quan, nếu không muốn nói là bất khả thi.

Có thể đồng ý rằng việc đo lường những nỗ lực tốt nhất trong hoạt động hợp đồng nên được tiến hành trên cơ sở thực tế khách quan, ví dụ như của một công ty, tại thời điểm nghĩa vụ của nó đòi hỏi những nỗ lực tốt nhất xảy ra. Cụ thể, để đo lường chính xác mức độ thực hiện nghĩa vụ, các yếu tố như tài chính, nguồn nhân lực, kinh nghiệm và nghĩa vụ còn tồn đọng đối với các đối tượng khác rất cần được tính đến. Cần lưu ý, một công ty thường bị trói buộc bởi nhiều nghĩa vụ và trách nhiệm đối với nhiều bên như cơ quan quản lý Nhà nước (chủ yếu là cơ quan thuế), nhân viên, khách hàng và đối tác thương mại. Hơn nữa, trong một số trường hợp, một công ty phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo sự sắp xếp ưu tiên theo quy định của pháp luật hoặc tập quán được công nhận và thực hiện rộng rãi.

“Nỗ lực hợp lý” hay “nỗ lực tốt nhất”? 

Ngoài cụm từ “nỗ lực tốt nhất”, cụm từ “nỗ lực hợp lý” cũng thường có thể được tìm thấy trong các hợp đồng. Nói theo ngôn ngữ học, từ “tốt nhất” và “hợp lý” rõ ràng là khác nhau về nghĩa. Như đã trích dẫn ở trên, tiêu chuẩn nỗ lực tốt nhất có thể mang ý nghĩa “làm mọi thứ trong khả năng của mình”, và “đến mức có thể gây bất kỳ thiệt hại cho bên có nghĩa vụ”. Trong khi đó, “nỗ lực hợp lý” có thể được hiểu là làm mọi việc với sự cân nhắc hợp lý về những thiệt hại có thể chấp nhận được. Vì vậy, về cơ bản, những từ đó không thể thay thế cho nhau trong giao tiếp hàng ngày.

Tuy nhiên, về mặt hợp đồng, việc thực hiện “nỗ lực tốt nhất” và “nỗ lực hợp lý” vẫn còn gây tranh cãi ở một số khu vực tài phán khác nhau. “Trong nhiều năm, các tòa án Hoa Kỳ đã sử dụng các cụm từ “nỗ lực hợp lý” và “nỗ lực tốt nhất” theo hướng có thể thay thế cho nhau trong và giữa các ý kiến. Khi chỉ sử dụng một trong các thuật ngữ, nghĩa vụ nỗ lực cao nhất thường không có sự phân biệt với nghĩa vụ nỗ lực hợp lý.”[2] . Ở Vương quốc Anh, cách tiếp cận trong việc diễn giải những nỗ lực tốt nhất của “nỗ lực tốt nhất” và “nỗ lực hợp lý” đã được điều chỉnh đáng kể sau nhiều năm tranh luận. Các tiêu chuẩn của “nỗ lực tốt nhất” thường được coi là nghĩa vụ nghiêm ngặt hơn nhiều so với các “nỗ lực hợp lý”, vì nỗ lực hợp lý được xem là cho phép các bên trong hợp đồng thực hiện nghĩa vụ của mình trên cơ sở đánh giá các yếu tố thương mại. Mặc dù vậy, hiện tại người ta chấp nhận rằng dường như “có rất ít yếu tố để phân biệt giữa các tiêu chuẩn nỗ lực tốt nhất và hợp lý tại Vương quốc Anh.[3] . Ngược lại, tại Canada, có một sự khác biệt đáng kể giữa những nỗ lực tốt nhất và những nỗ lực hợp lý trong suy nghĩ của người hành nghề luật nói chung. “Justice Dorgan xác định rằng tiêu chuẩn của “những nỗ lực tốt nhất” là một tiêu chuẩn khắt khe được minh họa bằng cụm từ “không có chướng ngại nào bị che giấu”, mặc dù trong bối cảnh và mục đích chung của chính hợp đồng, và còn khắt khe hơn cả “những nỗ lực hợp lý””[4]. Trong khi đó, tiêu chuẩn của “nỗ lực hợp lý” thường được xem là bắt buộc một bên phải thực hiện nhiệm vụ của mình theo cách ít gây tổn thất nhất. Chẳng hạn, trong vụ việc của Armstrong v. Langley (thị trấn), tòa án cho rằng “Nỗ lực hợp lý ‘không yêu cầu tất cả các bước có thể có được [nhưng thay vào đó] là các bước hợp lý. Những nỗ lực hợp lý không có nghĩa là những nỗ lực tốt nhất có yêu cầu nghĩa vụ cao hơn đối với người có nghĩa vụ để hoàn thành nhiệm vụ được yêu cầu.”[5] 

Kết luận: Xem xét vấn đề từ góc độ thực hành pháp luật tại Việt Nam 

Nói chung, tại Việt Nam, các điều khoản đưa ra lời hứa sẽ thực hiện bằng nỗ lực tốt nhất thường không thu hút sự chú ý của các bên liên quan trong hợp đồng. Trên thực tế, các bên thường không đàm phán về cách các nỗ lực của một bên được đánh giá là tốt nhất và theo đó, các nghĩa vụ cần phải được thực hiện trong nỗ lực tốt nhất được đo lường bằng sự tin tưởng.

Ở Việt Nam chưa có tiền lệ nào được tạo ra để dẫn chiếu đến trong trường hợp có tranh chấp hợp đồng liên quan đến việc thực hiện “những nỗ lực tốt nhất”. Tuy nhiên, các bên có thể hạn chế khả năng tranh chấp có thể xảy ra liên quan đến vấn đề này bằng cách thảo luận về các tiêu chuẩn cụ thể về nỗ lực tốt nhất hoặc về các hành động dự kiến ​​sẽ được thực hiện. Mặt khác, nếu không có tiêu chuẩn nào được các bên đồng ý trước khi thực hiện hợp đồng, các tiêu chuẩn nỗ lực tốt nhất hoặc hợp lý nên được xem xét trên cơ sở các sự kiện khách quan thực tế để cho hợp lý và công bằng.

[1] https://www.jonesday.com/en/insights/2007/07/best-efforts-and-endeavourscase-analysis-and-practical-guidance-under-us-and-uk-law

[2] Tham khảo footnote 1.

[3] Tham khảo footnote 2

[4] https://www.lexology.com/library/detail.aspx?g=6a4c20dc-594d-4756-b710-7a2dc213e8c0

[5] Xem footnote 4

Read more...