Thủ tục chuyển nhượng đơn đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam

Thủ tục chuyển nhượng đơn đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam

Bất kỳ một cá nhân hay tổ chức đều có quyền nộp đơn đăng ký nhãn hiệu dùng cho hàng hóa do mình sản xuất hoặc dịch vụ do mình cung cấp. Trường hợp có nhu cầu, chủ đơn có quyền chuyển nhượng đơn nhãn hiệu cho một cá nhân, tổ chức khác. Việc chuyển nhượng đơn đăng ký nhãn hiệu phải được lập thành văn bản và bên được nhận chuyển nhượng cũng phải đảm bảo đáp ứng các điều kiện đối với người có quyền đăng ký tương ứng. 

1. Điều kiện chuyển nhượng đơn đăng ký nhãn hiệu

Trước khi Cục Sở hữu trí tuệ ra quyết định từ chối chấp nhận đơn, quyết định cấp hoặc từ chối cấp văn bằng bảo hộ, người nộp đơn có thể yêu cầu Cục Sở hữu trí tuệ ghi nhận việc thay đổi chủ đơn.  

Các trường hợp chuyển giao đơn đăng ký nhãn hiệu có thể dựa trên cơ sở chuyển nhượng, thừa kế, kế thừa hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. 

2. Trình tự thực hiện chuyển nhượng đơn đăng ký nhãn hiệu 

Bước 1: Các Bên ký kết thỏa thuận bằng văn bản ghi nhận việc chuyển giao đơn đăng ký nhãn hiệu, giá trị chuyển nhượng và các nội dung thỏa thuận khác (nếu có). 

Bước 2: Trong trường hợp chủ đơn đăng ký nhãn hiệu thông qua đại diện sở hữu trí tuệ để thực hiện thủ tục chuyển nhượng đơn đăng ký nhãn hiệu, chủ đơn cần ký giấy ủy quyền.  

Bước 3: Nộp hồ sơ đến Cục Sở hữu trí tuệ, nộp lệ phí và phí theo quy định và chờ quyết định/phản hồi của Cục Sở hữu trí tuệ.  

3. Thủ tục giải quyết hồ sơ chuyển nhượng đơn đăng ký nhãn hiệu 

Cơ quan có thẩm quyền giải quyết: Cục Sở Hữu Trí Tuệ.   

Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ  

Người nộp đơn có thể nộp hồ sơ bằng một trong hai hình thức như sau:   

Nộp hồ sơ giấy: nộp trực tiếp đến trụ sở của Cục Sở hữu trí tuệ tại Hà Nội và Văn phòng đại diện của Cục SHTT tại Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh. 

Nộp hồ sơ trực tuyến thông qua Cổng Dịch Vụ Công Trực Tuyến Cục Sở Hữu Trí Tuệ . Điều kiện để nộp đơn trực tuyến đó là người nộp đơn cần có chứng thư số và chữ ký số, đăng ký tài khoản trên Hệ thống tiếp nhận đơn trực tuyến và được Cục Sở hữu trí tuệ phê duyệt tài khoản để thực hiện các giao dịch đăng ký.  

Bước 2: Xử lý hồ sơ  

Sau khi Cục SHTT đã tiếp nhận và thẩm định hồ sơ, trong giai đoạn này sẽ xảy ra 02 trường hợp:  

Trường hợp 1: hồ sơ chuyển nhượng đơn đáp ứng đầy đủ theo quy định và người nộp đơn đã nộp đầy đủ phí, lệ phí, Cục SHTT quyết định ghi nhận chuyển nhượng đơn đăng ký nhãn hiệu và công bố nội dung chuyển nhượng đơn đăng ký nhãn hiệu trên Công báo sở hữu công nghiệp.  

Trường hợp 2: hồ sơ chuyển nhượng đơn có thiếu sót hoặc người nộp đơn chưa nộp đầy đủ phí, lệ phí,…Cục SHTT sẽ thông báo về các thiết sót và đề nghị người nộp đơn điều chỉnh, bổ sung phù hơp. Sau thời hạn ấn định mà người nộp đơn không khắc phục thiếu sót hay không có văn bản xin gia hạn thời gian khắc phục, Cục SHTT có quyền từ chối giải quyết và không hoàn trả lại phí, lệ phí đã nộp.  

4. Tài liệu cần chuẩn bị để thực hiện chuyển nhượng đơn đăng ký nhãn hiệu

– Tờ khai yêu cầu ghi nhận chuyển nhượng đơn đăng ký sở hữu công nghiệp;

– Tài liệu chuyển nhượng đơn đăng ký sở hữu công nghiệp (ghi rõ tên, địa chỉ của bên chuyển nhượng và bên được chuyển nhượng; số đơn được chuyển nhượng hoặc thông tin đủ để xác định đơn); 

– Giấy ủy quyền (nếu đơn nộp thông qua tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp) 

5. Lệ phí chuyển nhượng đơn đăng ký nhãn hiệu

Phí thẩm định yêu cầu chuyển nhượng đơn: 160.000VNĐ/01 đơn đăng ký. 

Phí công bố: 120.000VNĐ/01 đơn đăng ký trong trường hợp đơn đăng ký nhãn hiệu đã có Quyết định chấp nhận đơn hợp lệ. 

Trường hợp yêu cầu chuyển nhượng đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp sau khi có thông báo dự định cấp văn bằng bảo hộ, đơn đăng ký nhãn hiệu phải được thẩm định lại và công bố nội dung chuyển nhượng.  

Người nộp đơn phải nộp phí thẩm định đơn (550.000VNĐ/01 nhóm sản phẩm, dịch vụ) và phí công bố (120.000VNĐ/01 đơn yêu cầu chuyển nhượng). 

Lưu ý: phí và lệ phí có thể thay đổi tại thời điểm nộp đơn.  

6. Thời gian thực hiện

Thời hạn xử lý yêu cầu chuyển nhượng đơn đăng ký nhãn hiệu: 02 tháng.   

Lưu ý: thời gian này có thể bị kéo dài do ảnh hưởng bởi số lượng hồ sơ còn tồn đọng (nếu có) tại Cục SHTT.  

Send Contact
Call Us