Những điểm cần lưu ý về giấy phép lao động cho người nước ngoài

Những điểm cần lưu ý về giấy phép lao động cho người nước ngoài

Theo tổ chức lao động quốc tế – ILO, thị trường lao động là thị trường trong đó có các dịch vụ lao động được mua và bán thông qua quá trình để xác định mức độ có việc làm của lao động, cũng như mức độ tiền công. Dưới góc nhìn của ILO, thị trường lao động chiếm vị trí và vai trò rất quan trọng đến sự phát triển kinh tế. Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, mở cửa thị trường lao động đang là xu thế tất yếu của mỗi quốc gia. Để bắt kịp tiến độ phát triển của các quốc gia khác trên thế giới, cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam đã và đang chuẩn bị các hành lang pháp lý tốt nhất, kết hợp thúc đẩy và điều tiết chính sách tận dụng tối ưu lao động nước ngoài có trình độ chuyên môn cao nhưng vẫn đảm bảo công việc của lao động trong nước được ổn định. Bộ luật lao động 2019 (BLLĐ 2019) thay thế Bộ luật lao động 2012 (BLLĐ 2012) đã có những điểm sửa đổi đáng chú ý liên quan đến Giấy Phép Lao Động của người lao động nước ngoài tại Việt Nam. Tuy nhiên việc chuyển tiếp quy định về Giấy Phép Lao Động giữa hai Bộ Luật Lao Động lại gây lên một số điểm bất cập cho người lao động đã và đang làm việc tại Việt Nam, đặc biệt thời điểm dịch bệnh Covid -19 đang có những chuyển biến phức tạp

Điểm sửa đổi phù hợp với thực tiễn về người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp Giấy phép lao động

Với sự đòi hỏi cao về trình độ, chuyên môn và kỹ năng, đặc biệt là sự khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ nên nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều có xu hướng đưa người lao động của chính quốc gia họ vào Việt Nam để làm việc, đặc biệt là các chức danh quản lý. BLLĐ 2012 và BLLĐ 2019 đều quy định nhà đầu tư nước ngoài là chủ sở hữu hoặc thành viên góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn, Chủ tịch Hội đồng quản trị và thành viên Hội đồng quản trị của công ty cổ phần sẽ không thuộc diện cấp Giấy Phép Lao Động. Tuy nhiên, để khắc phục tình trạng những nhà đầu tư “ảo” (chỉ góp một khoản tiền nhỏ hoặc lao động phổ thông không đủ điều kiện cấp giấy phép lao động) lợi dụng quy định này ở lại và làm việc tại Việt Nam nhưng không mang lại lợi ích đầu tư lớn, gây ảnh hưởng đến lao động trong nước. BLLĐ 2019 đã cụ thể điều kiện về giá trị vốn góp mà nhà đầu tư nước ngoài cần đáp ứng để không thuộc diện cấp giấy phép lao động, cụ thể giá trị vốn góp phải từ 03 tỷ đồng trở lên (Khoản 1 và 2 Điều 7 Nghị định số 152/2020/NĐ-CP).

Ngoài ra, BLLĐ 2019 cũng bổ sung quy định trong trường hợp người nước ngoài kết hôn với người Việt Nam và sinh sống, làm việc trên lãnh thổ Việt Nam thì không thuộc diện cấp Giấy Phép Lao Động. Quy định này hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tế khi mà việc kết hôn có yếu tố nước ngoài ngày càng phát triển và thúc đẩy mong muốn định cư lâu dài của các cặp vợ chồng đa quốc tịch tại Việt Nam. Tuy nhiên, trong một phương diện khác, các cơ quan có thẩm quyền cần cân nhắc đến cơ chế quản lý đối với người lao động nước ngoài làm việc không thuộc diện cấp Giấy Phép Lao Động khi kết hôn với người Việt Nam và sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam để tránh tình trạng kết hôn giả tạo theo quy định của Luật hôn nhận và Gia đình và quy định hệ quả trong trường hợp nếu người lao động nước ngoài ly hôn.

Những điểm bất cập khi gia hạn Giấy Phép Lao Động của người lao động nước ngoài đã được cấp theo BLLĐ 2012 và Nghị Định 11/2016/NĐ-CP

Thứ nhất, Về thời hạn của Giấy Phép Lao Động, BLLĐ 2019 vẫn duy trì quy định thời hạn của Giấy Phép Lao Động là tối đa hai (02) năm, không thay đổi so với BLLĐ 2012. Tuy nhiên, khác với BLLĐ 2012, Điều 155 của BLLĐ 2019 chỉ cho phép gia hạn thời hạn của Giấy Phép Lao Động một lần với thời hạn tối đa là hai (02) năm. Điều này có nghĩa là tổng thời hạn của Giấy Phép Lao Động (bao gồm cả lần cấp đầu tiên và lần gia hạn tiếp theo) có thể tối đa là bốn (04) năm. Sau khi hết hạn Giấy Phép Lao Động, người lao động nếu muốn tiếp tục làm việc tại Việt Nam sẽ phải làm thủ tục xin cấp mới Giấy Phép Lao Động. Sau một thời gian khoảng bốn (04) năm cộng tác cùng người lao động nước ngoài, qua quá trình học hỏi và phát triển không ngừng, nguồn lao động trong nước có thể đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp. Trong trường hợp xét thấy không cần thiết tiếp tục sử dụng người lao động nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền có thể từ chối cấp Giấy Phép Lao Động cho người lao động nước ngoài làm việc ở Việt Nam. 

Thứ hai, đối với những Giấy Phép Lao Động đã được cấp theo Nghị Định 11/2016/NĐ-CP (“Nghị Định 11”), quan điểm của Sở Lao Động Thương Binh Xã Hội Thành phố Hồ Chí Minh là từ chối gia hạn bất kỳ Giấy Phép Lao Động được cấp theo quy định của Nghị Định 11, ngay cả khi Giấy Phép Lao Động vẫn đang còn hiệu lực và chưa được gia hạn lần nào. Trả lời tại Hội nghị đối thoại giữa Doanh nghiệp và Chính quyền Thành phố, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, trong trường hợp Giấy Phép Lao Động được cấp theo quy định cũ hết hạn, đơn vị sẽ thực hiện hồ sơ đề nghị cấp Giấy Phép Lao Động mới theo quy định tại nghị định mới. Đối với vấn đề này, chúng tôi cho rằng nhận định trên là không có cơ sở pháp lý và mâu thuẫn với quy định pháp luật.  Bởi lẽ, quy định của điều khoản chuyển tiếp theo quy định tại Khoản 3 Điều 29 Nghị Định 152/2020/NĐ-CP (“Nghị Định 152”) thay thế Nghị định 11 chỉ quy định Giấy Phép Lao Động được cấp theo quy định tại Nghị Định 11/2016/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị Định 140/2018/NĐ-CP tiếp tục được sử dụng đến khi hết thời hạn mà không có bất kỳ quy định nào về Giấy Phép Lao Động được cấp theo quy định cũ không được gia hạn.

Giấy phép lao động đối với người nước ngoài đã làm việc ở Việt Nam trong một thời gian dài

Theo quy định tại Nghị Định 11và Nghị Định 152, trong trường hợp đặc biệt, người lao động nước ngoài đã được cấp Giấy Phép Lao Động và đang còn hiệu lực có nhu cầu làm việc cho người sử dụng lao động khác ở cùng vị trí công việc và cùng chức danh công việc ghi trong Giấy Phép Lao Động thì không cần nộp tài liệu, văn bản, giấy tờ chứng minh là nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia, lao động kỹ thuật. Tuy nhiên, tại Hội nghị đối thoại giữa Doanh nghiệp và Chính quyền Thành phố, Trưởng phòng Việc làm – An toàn lao động cho biết, khi Giấy Phép Lao Động được cấp theo quy định cũ hết hạn, đơn vị sẽ thực hiện hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động theo quy định tại nghị định 152. Đồng thời đối với vị trí công việc là chuyên gia, người nước ngoài phải đảm bảo quy định đối với điều kiện về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm làm việc theo quy định tại Nghị Định 152. Cụ thể:

  1. Có bằng đại học trở lên hoặc tương đương và có ít nhất 3 năm kinh nghiệm làm việc trong chuyên ngành được đào tạo phù hợp với vị trí công việc mà người lao động nước ngoài dự kiến làm việc tại Việt Nam; hoặc
  2. Có ít nhất 5 năm kinh nghiệm và có chứng chỉ hành nghề phù hợp với vị trí công việc mà người lao động nước ngoài dự kiến làm việc tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, văn bản xác nhận là chuyên gia của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có thể sẽ không áp dụng khi thực hiện cấp Giấy Phép Lao Động theo quy định mới. Nghĩa là các văn bản xác nhận kinh nghiệm của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nơi mà Người lao động đã từng làm việc với vị trí chuyên gia sẽ không được Sở Lao động – Thương binh và Xã hội chấp thuận khi xin cấp mới  Giấy Phép Lao Động.  Tuy nhiên, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội sẽ xác định xét từng trường hợp cụ thể để tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp. 

Theo quan điểm của chúng tôi, trường hợp này Sở Lao động – Thương binh và Xã hội nên xem xét dùng thời gian kinh nghiệm làm việc tại Việt Nam để chứng minh kinh nghiệm làm việc trong thủ tục cấp Giấy Phép Lao Động theo quy định mới, tương tự như lao động đã làm việc ở quốc gia khác. Bởi lẽ những người lao động nước ngoài đã được cấp Giấy Phép Lao Động theo Nghị định 11 và đã làm việc tại Việt Nam trong thời gian dài với cùng vị trí xin cấp mới Giấy Phép Lao Động là hoàn toàn đủ cơ sở để chứng minh kinh nghiệm theo Nghị Định 152. Người sử dụng lao động nên liên hệ với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tại tỉnh/ thành phố nơi người lao động nước ngoài dự kiến làm việc để xin ý kiến và trao đổi trước về quan điểm, sau đó hướng dẫn người lao động cung cấp tài liệu phù hợp.

Tóm lại, BLLĐ 2019 và Nghị định 152 đã có những đối mới và đồng thời cũng siết chặt hơn trong vấn đề quản lý lao động. Người sử dụng lao động và người lao động nên xem xét kỹ các quy định pháp luật để tránh vi phạm trong quá trình thực hiện và gặp khó khăn trong quá trình xin cấp phép.