Những quy định mới trong Thông tư số 40/2021/TT-BTC

CẬP NHẬT PHÁP LÝ

Những quy định mới trong Thông tư số 40/2021/TT-BTC

Những quy định về thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh trong Thông tư số 40/2021/TT-BTC

Ngày 01/06/2021, Bộ Tài Chính đã ban hành Thông tư số 40/2021/TT-BTC hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh (sau đây được gọi là “Thông tư 40/2021”) với một số điểm đáng lưu ý sau đây:

a. Quy định trường hợp không thuộc diện phải kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân:

Thông tư 40/2021 đã quy định rõ, đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh trong năm dương lịch từ 100 triệu đồng trở xuống thì thuộc trường hợp không phải nộp thuế GTGT và không phải nộp thuế TNCN theo quy định pháp luật về thuế GTGT và thuế TNCN.

b. Bổ sung thêm phương pháp tính thuế dành cho hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh:

Thông tư 40/2021 đã bổ sung hướng dẫn mới về phương pháp tính thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai.  Theo đó, phương pháp này sẽ được áp dụng đối với các hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh với quy mô lớn hoặc chưa đáp ứng quy mô lớn nhưng lựa chọn nộp thuế theo phương pháp kê khai.

Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai thực hiện khai thuế theo tháng hoặc quý, phải thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định nhưng không phải quyết toán thuế.

Trong trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai mà xác định doanh thu tính thuế không phù hợp thực tế thì cơ quan thuế thực hiện ấn định doanh thu tính thuế theo quy định tại Điều 50 Luật Quản lý thuế.

c. Bổ sung chủ thể có trách nhiệm kê khai, nộp thuế thay cho cá nhân:

Bên cạnh các trường hợp đã được quy định tại khoản 2 Điều 8 Thông tư 92/2015/TT- BTC, Thông tư 40/2021 bổ sung thêm các chủ thể có trách nhiệm kê khai, nộp thuế thay cho cá nhân như sau:

  • Tổ chức hợp tác kinh doanh với cá nhân;
  • Tổ chức chi trả các khoản thưởng, hỗ trợ đạt doanh số, khuyến mại, chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, chi hỗ trợ bằng tiền hoặc không bằng tiền, các khoản bồi thường vi phạm hợp đồng, bồi thường khác cho hộ khoán;
  • Tổ chức tại Việt Nam là đối tác của nhà cung cấp nền tảng số ở nước ngoài (không có cơ sở thường trú tại Việt Nam) thực hiện chi trả thu nhập từ sản phẩm, dịch vụ nội dung thông tin số cho cá nhân theo thỏa thuận với nhà cung cấp nền tảng số ở nước ngoài;
  • Tổ chức là chủ sở hữu sàn giao dịch thương mại điện tử thực hiện việc khai thuế thay, nộp thuế thay cho cá nhân theo lộ trình của cơ quan thuế;
  • Tổ chức, cá nhân khai thuế thay, nộp thuế thay cho cá nhân theo ủy quyền của pháp luật dân sự.

d. Quy định mới về phương pháp tính thuế với cá nhân cho thuê tài sản:

Theo thông tư 40/2021, cá nhân cho thuê tài sản không phát sinh doanh thu đủ 12 tháng trong năm dương lịch (bao gồm cả trường hợp có nhiều hợp đồng cho thuê) thì mức doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân cho thuê tài sản không phải nộp thuế GTGT, không phải nộp thuế TNCN là doanh thu tính thuế TNCN của một năm dương lịch (12 tháng); doanh thu tính thuế thực tế để xác định số thuế phải nộp trong năm là doanh thu tương ứng với số tháng thực tế phát sinh cho thuê tài sản.

Điều này có nghĩa là cá nhân, hộ gia đình cho thuê tài sản không phát sinh doanh thu đủ 12 tháng trong năm dương lịch thì căn cứ để xác định việc đóng thuế là doanh thu danh nghĩa chứ không phải doanh thu thực tế phát sinh.

Thông tư 40/2021 có hiệu lực kể từ ngày 01/08/2021.

Tải Bản tin pháp lý tại đây.