sibar-articles-Dao Trung Thong(TV)

Bài viết liên quan

Đăng ký nhãn hiệu tại Indonesia

Việc đăng ký nhãn hiệu tại Indonesia được quy định bởi Luật nhãn hiệu số 15 năm 2001 bởi  Cục Sở hữu trí tuệ (DGIP). Chính phủ Indonesia gần đây đã sửa đổi, bổ sung Luật Nhãn hiệu 2001 và thông qua Luật Nhãn hiệu và Chỉ dẫn địa lý mới số 20 vào ngày 17 tháng 10 năm 2016. Luật nhãn hiệu mới này sẽ có phạm vi bảo hộ nhãn hiệu rộng hơn cũng như đơn giản hóa quy trình đăng ký nhãn hiệu của chủ sở đơn (“Luật Nhãn hiệu”).  

Theo Luật Nhãn hiệu, một “nhãn hiệu” sẽ được tạo thành bởi một dấu hiệu dưới dạng từ ngữ, các con số, chữ cái, màu sắc, số liệu, thành phần, biểu tượng hoặc là một sự kết hợp các yếu tố nói trên nhằm phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ được sản xuất bởi một chủ thể này với chủ thể khác.

Quy trình đăng ký nhãn hiệu sẽ được thực hiện dựa trên Luật Nhãn hiệu mới như sau:

Đơn đăng ký

  • Thẩm định hình thức đơn trong 15 ngày làm việc;
  • Đơn đăng ký cần được thực hiện dưới dạng văn bản bằng Tiếng Indonesia;
  • Điền đầy đủ tên, địa chỉ và quốc tịch của chủ đơn;
  • Miêu tả và giải thích nhãn hiệu về thiết kế và màu sắc;
  • Thanh toán phí cho Cục SHTT Indonesia;
  • Các yêu cầu tối thiểu để xác định ngày nộp đơn.

Xem thêm: Đăng ký nhãn hiệu tại Lào.

Thẩm định nội dung 

  • Nếu không có sự phản đối trong thời gian công bố, đơn đăng ký sẽ bước vào giai đoạn thẩm định nội dung trong 150 ngày làm việc. Trong trường hợp cần thiết, Cục SHTT Indonesia cho phép thuê các chuyên gia bên ngoài để tiến hành thẩm định. Nếu có bất kỳ sự phản đối nào xảy ra, đơn đăng ký sẽ được kiểm tra đồng thời;
  • Việc thẩm định nội dung được thực hiện bởi một giám định được bổ nhiệm bởi Bộ trưởng Bộ Luật và Nhân quyền;
  • Thời gian thẩm định nội dung kéo dài không quá 9 (chín) tháng;
  • Đối với một đơn đăng ký có chứa các yếu tố có thể gây hiểu lầm về loại, chất lượng, mục đích sử dụng của hàng hóa/dịch vụ hoặc yếu tố đã được đăng ký bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu, yếu tố đó sẽ được coi là không thể bảo hộ;
  • Nếu mô tả về hàng hóa/dịch vụ không phù hợp với chất lượng hoặc hiệu quả của hàng hóa/dịch vụ, đơn đăng ký cũng không thể bảo hộ.

Chứng nhận

  • Nếu đơn đăng ký nhãn hiệu vượt qua thành công quá trình thẩm định, Cục SHTT Indonesia sẽ cấp giấy chứng nhận đăng ký và công bố nhãn hiệu trên Công báo Nhãn hiệu chính thức;
  • Trong giai đoạn công bố, bất kỳ cá nhân hoặc pháp nhân nào cũng có thể gửi văn bản phản đối đến Cục SHTT Indonesia;
  • Trong trường hợp từ chối nhãn hiệu, Cục SHTT Indonesia sẽ tiến hành kiểm tra và điều tra lại trong 2 (hai) tháng.

Luật Nhãn hiệu cũng giới thiệu các loại nhãn hiệu mới có thể được bảo hộ theo quy định, bao gồm:

  • Nhãn hiệu 3 chiều;
  • Nhãn hiệu âm thanh;
  • Hình ba chiều tương phản.

Đăng ký nhãn hiệu quốc tế

Luật Nhãn hiệu mới ban hành quy định về quá trình đăng ký nhãn hiệu quốc tế. Quy trình này được thực hiện dựa trên cơ sở Hệ thống đăng ký nhãn hiệu quốc tế theo Nghị định thư Madrid – một hiệp ước quốc tế cho phép chủ sở hữu nhãn hiệu đăng ký nhãn hiệu ở bất kỳ quốc gia thành viên nào của Nghị định thư Madrid.

Xử lý vi phạm Luật Nhãn hiệu

Hiện tại, các hành vi vi phạm nhãn hiệu sẽ bị phạt với mức là 2 tỷ Rupiah. Trong trường hợp hậu quả vi phạm gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, môi trường hay sự sống, mức phạt sẽ là 5 tỷ Rupiah.

Xem thêm: Đăng ký nhãn hiệu tại Cambodia.

Read more...

Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp trên mạng xã hội, xử lí ra sao?

2020 là một năm đầy biến động, đại dịch SARS-CoV-2 khởi nguồn vào khoảng tháng 11 năm 2019 tại thành phố Vũ Hán, Trung Quốc với sự lây lan nhanh chóng của nó đã làm biến đổi hoàn toàn cách thức tương tác của cộng đồng, từ trực tiếp thành trực tuyến, từ kết nối cộng đồng thành giãn cách xã hội… Tuy nhiên, đại dịch cũng tạo nên cơ hội cho bước chuyển mình mạnh mẽ của các doanh nghiệp, áp dụng công nghệ vào hoạt động kinh doanh thương mại, biến môi trường số trở thành công cụ kinh doanh, sinh lợi. Các mạng xã hội như Facebook, Instagram, Twitter… dần trở thành phương tiện giao tiếp, cung cấp thông tin chính giữa các cá nhân và cũng là một trong những công cụ không thể bỏ qua trong hoạt động kinh doanh của thương nhân.

Với việc lan truyền, phát tán thông tin nhanh chóng, dễ dàng, việc tiếp cận và quảng bá sản phẩm/dịch vụ trên diện rộng, các hoạt động kinh doanh online và qua mạng xã hội đang dần trở nên quen thuộc hơn với cả chủ thể kinh doanh và người tiêu dùng. Các mạng xã hội, vì đó, cũng dẫn trở thành một thị trường béo bở cho những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, nhưng không phải doanh nghiệp, thương nhân nào cũng hiểu rõ những biện pháp để tự bảo vệ hoạt động kinh doanh của mình khi thực hiện kinh doanh online, hay khi bị xâm phạm, cạnh tranh không lành mạnh bởi các chủ thể khác trên các trang mạng xã hội. Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả chỉ đưa ra các phân tích, đánh giá phương án xử lý một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh phổ biến trên mạng xã hội đối với các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh thương mại trên cơ sở của pháp luật Việt Nam.

Tung thông tin “bẩn”, không chính xác về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Với số lượng người dùng rất lớn, khả năng truyền tin nhanh, và người dùng thường không kiểm chứng  được tính chính xác của thông tin, mạng xã hội trở thành nơi  thông tin “bẩn”, không chính xác thường được đăng tại tải.  Câu chuyện về chất lượng nguồn nguyên liệu sữa của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) không rõ ràng vào khoảng cuối năm 2019 là một trong những ví dụ điển hình về sức ảnh hưởng của những thông tin “bẩn” đối với các doanh nghiệp. Các đối thủ cạnh tranh chỉ cần đưa ra các thông tin mập mờ về chất lượng nguồn nguyên liệu hay những thông tin thiếu căn cứ về thành phần sản phẩm, dựa vào tốc độ chia sẽ và truyền thông tin nhanh đến chóng mặt và phạm vi truy cập rộng khắp của môi trường số, Vinamilk đã phải đối mặt với nguy cơ mất hàng tỷ đồng vốn hóa trên thị trường chứng khoán. Hay như thông tin lan truyền trên mạng xã hội về những vạch màu tại phần đuôi kem đánh răng thể hiện thành phần có trong loại kem đánh răng đó là có nguồn gốc tự nhiên hay hóa học cũng gây hoang mang dư luận và tâm lý người tiêu dùng, làm ảnh hưởng đến doanh số bán hàng của các hãng sản xuất kem đánh răng như P/S, Coggate trong một thời gian. 

Hiện nay, việc xử lý hành vi đăng tải thông tin không chính xác trên các trang mạng xã hội đã được Chính Phủ Việt Nam quy định cụ thể tại Nghị định số 15/2020/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử, trong đó:

Các hành vi lợi dụng mạng xã hội để:

  • Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân;
  • Cung cấp, chia sẻ thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân, kích động bạo lực, tội ác, tệ nạn xã hội, đánh bạc hoặc phục vụ đánh bạc.

Có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng theo quy định tại Điều 101, Nghị định số 15/2020/NĐ-CP, hoặc tùy vào mức độ và hành vi đăng thông tin sai sự thật, các tổ chức/cá nhân đăng tin có thể bị xử lý về hành vi cung cấp thông tin không trung thực về doanh nghiệp khác theo quy định tại Khoản 1,2 Điều 18 Nghị định 75/2019/NĐ-CP với mức phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng. Tổ chức, cá nhân bị ảnh hưởng bởi các hành vi đăng tải thông tin sai sự thật, có thể yêu cầu cơ quan công an hoặc ủy ban nhân dân xử lý các hành vi đăng tải thông tin sai sự thật nêu trên.

Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp trên mạng xã hội

Bên cạnh hành vi tung tin giả gây ảnh hưởng đến hoat động kinh doanh của doanh nghiệp, viêc lập những trang mạng xã hội với các dấu hiệu, biểu tượng trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu, tên thương mại, dấu hiệu nhận diện của các doanh nghiệp khác để kinh doanh mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu của các nhãn hiệu, tên thương mại, dấu hiệu đó cũng là một trong những hành vi vi phạm phổ biến hiện nay.

Các hành vi này có thể bị coi là hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đã được bảo hộ nếu các nhãn hiệu, tên thương mại, dấu hiệu nhận diện đó đã được doanh nghiệp đăng ký bảo hộ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc cạnh tranh không lành mạnh theo quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ, bao gồm:

Điều 130. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh

1. Các hành vi sau đây bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh:

a) Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ;

b) Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ;

….

2. Chỉ dẫn thương mại quy định tại khoản 1 Điều này là các dấu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hoá, dịch vụ, bao gồm nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hoá, nhãn hàng hoá. 

3. Hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm các hành vi gắn chỉ dẫn thương mại đó lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch kinh doanh, phương tiện quảng cáo; bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu hàng hoá có gắn chỉ dẫn thương mại đó.”

Khi gặp phải các hành vi xâm phạm đối với các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ của mình trên các trang mạng xã hội, doanh nghiệp có thể thực hiện việc báo cáo hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức/ cá nhân nêu trên với các đơn vị quản lý mạng xã hội để yêu cầu xóa bỏ nội dung vi phạm hoặc khóa tài sản vi phạm. Bên cạnh đó, tổ chức/ cá nhân bị vi phạm cũng có thể yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền như công an, ủy ban nhân dân tiếp nhận và tiến hành xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và/hoặc vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến đối tượng quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật, với mức yêu cầu xử phạt có thể lên đến 20.000.000 đồng theo quy định tại Nghị Định 99/2013/NĐ-CP về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.

Các hành vi nêu trên đây mới chỉ là hai trong số rất rất nhiều phương thức cạnh tranh không lành mạnh xuất hiện trên thực tế, và mỗi hành vi, tùy vào đối tượng bị xâm phạm cũng như cách thức thực hiện, sẽ có thể bị xử lý theo các quy định khác nhau. Trong kinh doanh, cạnh tranh là điều không thể tránh, tuy nhiên thương nhân cần nhận biết được hành vi nào là cạnh tranh không lành mạnh để tránh, cũng như cách thức để xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhằm giảm thiểu thiệt hại của mình.

Read more...

Luật doanh nghiệp 2020-Những thay đổi đáng lưu ý

Luật Doanh nghiệp mới đã chính thức được Quốc hội thông qua ngày 17 tháng 06 năm 2020 và sẽ chính thức có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2021 (“Luật Doanh Nghiệp 2020”). Theo đó, Luật Doanh Nghiệp 2020 đã có một số thay đổi quan trọng tạo ra nhiều thuận lợi hơn so với phiên bản trước đây, ví dụ như cắt giảm một số thủ tục hành chính, bổ sung thêm trường hợp chuyển đổi từ doanh nghiệp tư nhân sang công ty cổ phần,… sau đây là một số thay đổi quan trọng của Luật Doanh Nghiệp 2020 đến hoạt động kinh doanh của Doanh Nghiệp:

1. Thời hạn góp vốn vào Doanh Nghiệp:

Luật Doanh Nghiệp 2020 vẫn giữ nguyên thời gian góp vốn là 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy Chứng Nhận Đăng Ký Doanh Nghiệp. Tuy nhiên, Luật Doanh Nghiệp 2020 còn bổ sung thêm quy định loại trừ đi thời gian vận chuyển, nhập khẩu tài sản góp vốn, thực hiện thủ tục hành chính để chuyển quyền sở hữu tài sản ra khỏi thời hạn góp vốn[1]. Điều chỉnh này là thiết thực đối với hoạt động góp vốn của Doanh Nghiệp, đối với những tài sản góp vốn đang ở nước ngoài thì cần có một khoảng thời gian nhất định cho việc vận chuyển, thực hiện thủ tục thông quan hoặc những tài sản cần phải đăng ký thay đổi chủ sở hữu như bất động sản, phương tiện giao thông, quyền sở hữu trí tuệ …, đặc biệt là những bất động sản có giá trị lớn thì cần có thời gian thực hiện các thủ tục chuyển đổi chủ sở hữu sang Doanh Nghiệp. Mặc dù Luật Doanh Nghiệp 2020 không quy định rõ về thời điểm thành viên/cổ đông sáng lập buộc phải bắt đầu việc vận chuyển, nhập khẩu hay thực hiện thủ tục hành chính để góp vốn vào Doanh Nghiệp, nhưng theo cách hiểu thông thường, thành viên/cổ đông sáng lập phải bắt đầu thực hiện các thủ tục cần thiết để chuyển quyền sở hữu các tài sản góp vốn sang Doanh Nghiệp trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy Chứng Nhận Đăng Ký Doanh Nghiệp. 

2. Bãi bỏ quy định báo cáo thay đổi thông tin của người quản lý doanh nghiệp: 

Luật Doanh Nghiệp 2014 yêu cầu Doanh Nghiệp phải thông báo chơ cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có thay đổi thông tin thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát hoặc Kiểm soát viên, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc[2]. Thực tế cho thấy, quy định này đã gây khó khăn ít nhiều cho Doanh Nghiệp, đặc biệt là đối với công ty cổ phần khi mà việc thay đổi các thông tin liên quan đến thành viên hội đồng quản trị cũng phải thông báo lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền, phát sinh thêm các thủ tục hành chính vốn không cần thiết. Tuy nhiên, Luật Doanh Nghiệp 2020 đã chính thức bãi bỏ quy định này và góp phần cắt giảm đi thủ tục hành chính. Một vấn đề được quan tâm là các thông tin về người quản lý doanh nghiệp đã được lưu trữ và công bố trên cổng thông tin quốc gia sẽ được giải quyết như thế nào, Doanh Nghiệp cần phải thực hiện bất kỳ thủ tục điều chỉnh thông tin hay mặc nhiên cơ quan đăng ký kinh doanh tự động điều chỉnh bỏ thông tin người quản lý doanh nghiệp này. Doanh Nghiệp cần phải chờ đợi Nghị định hướng dẫn Luật Doanh Nghiệp 2020 trong tương lai để xác định cách thức thực hiện tiếp theo.

3. Quy định về người đại diện theo pháp luật:

Cả Luật Doanh Nghiệp 2014 và Luật Doanh Nghiệp 2020 đều cho phép công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Quyền, nghĩa vụ và chức danh của người đại diện theo pháp luật được quy định cụ thể trong Điều lệ công ty. Tuy nhiên, Luật Doanh Nghiệp 2020 bổ sung trường hợp việc phân chia quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật chưa được quy định rõ trong Điều lệ công ty thì mỗi người đại diện theo pháp luật của công ty đều là đại diện đủ thẩm quyền của Doanh Nghiệp trước bên thứ ba; tất cả người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm liên đới đối với thiệt hại gây ra cho Doanh Nghiệp theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan[3]. Thông qua quy định trên, trong trường hợp điều lệ công ty không quy định rõ quyền và nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật thì mỗi người đại diện theo pháp luật có thể được xem như là “thành viên hợp danh” và chịu trách nhiệm liên đối với với công ty nếu gây ra thiệt hại. Điều này góp phần tạo ra trách nhiệm “giám sát lẫn nhau” vì nếu có làm sai sót thì tất cả đều phải chịu trách nhiệm và cùng liên đới khắc phục hậu quả. Đồng thời các người đại diện theo pháp luật phải thật sự cẩn trọng và luôn chú ý tới các quyết định của những người đại diện theo pháp luật khác vì họ có thể bị ảnh hưởng do quyết định sai lầm của người khác.

4. Công ty trách nhiệm hữu hạn được phép phát hành trái phiếu:

Việc công ty trách nhiệm hữu hạn được phát hành trái phiếu dường như cũng còn khá xa lạ với nhiều người bởi lẽ Luật Doanh Nghiệp 2014 không có quy định chính thức về việc phát hành trái phiếu của công ty trách nhiệm hữu hạn. Tuy nhiên, tại Nghị định 163/2018/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 81/2020/NĐ-CP thừa nhận rằng công ty trách nhiệm hữu hạn vẫn có quyền phát hành trái phiếu nếu như đáp ứng đầy đủ điều kiện nhất định [4]. Tiêu biểu là gần đây xuất hiện thông tin Công Ty TNHH Thương Mại Dịch Vụ Xích Lô Đỏ vừa công bố huy động thành công 738 tỷ từ việc phát hành trái phiếu khiến dư luận xôn xao vì tương quan về quy mô vốn, tình hình kinh doanh của doanh nghiệp này so với số vốn huy động được từ việc phát hành trái phiếu. Luật Doanh Nghiệp 2020 đã chính thức quy định về quyền được phát hành trái phiếu theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp và các pháp luật khác có liên quan [5]. Theo đó, công ty trách nhiệm hữu hạn được phép phát hành trái phiếu riêng lẻ khi đáp ứng các điều kiện như báo cáo tài chính đã được kiểm toán, đã thanh toán đầy đủ các khoản nợ gốc, bảo đảm về tỉ lệ an toàn tài chính và lãi của trái phiếu đã chào bán trước đó (nếu có)… Về trình tự, thủ tục chi tiết có lẽ phải đợi đến khi Chính phủ có văn bản hướng dẫn.

5. Quy định mới về quyền tiếp cận thông tin của “cổ đông nhỏ”:

Luật Doanh Nghiệp 2020 đã bổ sung quyền của nhóm cổ đông hoặc cổ đông nắm giữ từ 5% cổ phần trở lên hoặc một tỉ lệ khác nhỏ hơn do điều lệ công ty quy định. Nhóm cổ đông hoặc cổ đông nhỏ này có quyền xem xét, tra cứu, trích lục biên bản và nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị, báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm, báo cáo của Ban kiểm soát, hợp đồng, giao dịch phải thông qua Hội đồng quản trị và tài liệu khác, trừ tài liệu liên quan đến bí mật thương mại, bí mật kinh doanh của công ty [6]. Theo đó, Luật Doanh Nghiệp 2020 loại trừ tài liệu liên quan đến bí mật thương mại, bí mật kinh doanh của công ty ra khỏi phạm vi quyền của nhóm cổ đông hoặc cổ đông nhỏ này. Khái niệm “bí mật kinh doanh” đã được quy định tại Luật Sở hữu Trí tuệ hiện hành [7] nhưng bí mật thương mại thì vẫn chưa có văn bản pháp luật nào định nghĩa rõ ràng. Các cổ đông lớn hoặc Hội đồng quản trị vì lí do nào đó có thể lạm dụng quy định này để quy một tài liệu bất kỳ là bí mật thương mại trong trường hợp không muốn nhóm cổ đông hoặc cổ đông chiếm tỉ lệ 5% trở lên này tiếp cận. Bởi lẽ việc quy định “tài liệu liên quan đến bí mật thương mại, bí mật kinh doanh” được cho là phạm vi điều chỉnh quá rộng. Vô tình quy định loại trừ quyền tiếp cận thông tin liên quan đến bí mật thương mại đã thu hẹp quyền tiếp thông tin của nhóm cổ đông hoặc cổ đông nhỏ. Sẽ ra sao nếu hội đồng quản trị bị kiểm soát bởi nhóm cổ đông lớn và nhóm cổ đông lớn này không muốn các nhóm cổ đông hoặc cổ đông nhỏ tiếp cận thông tin thì có thể quy định toàn bộ hợp đồng được Hội đồng quản trị thông qua đều được gắn mác “bí mật thương mại”. Dù vậy, cũng cần phải thừa nhận rằng việc bổ sung một số quyền cho nhóm cổ đông hoặc cổ đông chiểm tỉ lệ 5% trở lên cũng được xem là điểm mới tích cực của Luật Doanh Nghiệp 2020 để bảo vệ lợi ích cho nhóm cổ đông hoặc cổ đông nhỏ.

6. Miễn nhiệm thành viên Hội đồng quản trị của công ty cổ phần: 

Luật Doanh Nghiệp 2020 đưa việc miễn nhiệm, bãi nhiệm, thay thế và bổ sung thành viên Hội đồng quản trị thành một điều khoản riêng[8]. Theo đó, Đại hội đồng cổ đông miễn nhiệm thành viên Hội đồng quản trị khi thành viên Hội đồng quản trị đó không đủ tiêu chuẩn, hay có đơn từ chức và được chấp thuận, hoặc các trường hợp khác do Điều lệ công ty quy định. Vấn đề cần làm rõ ở đây là miễn nhiệm trong trường hợp “có đơn từ chức và được chấp thuận”. Trường hợp điều lệ công ty không có quy định nào điều chỉnh nội dung này, nếu như một thành viên Hội đồng quản trị vì lí do nào đó mà muốn từ chức nhưng Đại hội đồng cổ đông không chấp thuận. Như vậy thành viên Hội đồng quản trị đó có được từ chức không? theo quy định của pháp luật là không do chưa đáp ứng đủ điều kiện chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. 

Hiện tại, Luật Doanh Nghiệp 2020 chưa có hiệu lực thi hành và chúng ta vẫn chưa xác thực được được tính hiệu quả trên thực tế áp dụng của một số điểm mới được đề cập ở trên. Luật Doanh Nghiệp 2020 cũng sẽ được hướng dẫn thi hành bởi các nghị định Chính Phủ, các thông tư của bộ ngành liên quan và Doanh Nghiệp có thể hiểu rõ được quy định mới này và áp dụng cho hoạt động kinh doanh của Doanh Nghiệp.

[1] Điều 47, Điều 75, Điều 113 Luật Doanh Nghiệp 2020

[2] Điều 12 Luật Doanh Nghiệp 2014

[3] Điều 12 Luật Doanh Nghiệp 2020

[4] Khoản 3 Điều 1 Nghị định 81/2020/NĐ-CP

[5] Khoản 4 Điều 46 và Khoản 4 Điều 74 Luật Doanh Nghiệp 2020

[6] Điểm a Khoản 2 Điều 115 Luật Doanh Nghiệp 2020

[7] Khoản 23 Điều 4 Luật Sở hữu Trí tuệ 2005

[8] Điều 160 Luật Doanh Nghiệp 2020

Read more...

Sửa đổi Luật sở hữu trí tuệ: Bảo vệ quyền tác giả trong bối cảnh kinh tế nền tảng

Bài viết đăng trên báo Sài Gòn Times.

Năm 2005, Luật sở hữu trí tuệ đầu tiên của Việt Nam được thông qua dưới sức ép của quá trình gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Dù nhận thức được chức năng của đạo luật này, bảo vệ và thực thi các quyền sở hữu trí tuệ chưa phải là ưu tiên số một của các nhà làm luật lúc bấy giờ. Năm 2020, chương trình sửa đổi luật sở hữu trí tuệ được khởi động dưới sức ép của việc Việt Nam ký kết hàng loạt hiệp định thương mại thế hệ mới với các tiêu chuẩn rất cao về vấn đề sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, bối cảnh hiện nay đã thay đổi rất nhiều so với 15 năm trước, bên cạnh áp lực bên ngoài của việc gia nhập các hiệp định kinh tế, chúng ta cũng đang đối mặt với một động lực thực tế hơn đến từ nội bộ chính mình, đó là sự thống trị của các “nền tảng” (platform) trong nền kinh tế số.

Bình luận về thách thức của nền tảng chia sẻ video ngắn Tiktok, David Isrealite (chủ tịch hiệp hội các nhà xuất bản âm nhạc quốc gia Hoa Kỳ) từng cho rằng các vụ kiện về quyền sở hữu trí tuệ là điều không thể tránh khỏi cho nền tảng đang nổi này. Giờ đây, dự đoán này đã thành hiện thực ở Việt Nam. Cụ thể, ngày 28/5/2020, Công ty cổ phần VNG (chủ sở hữu của nền tảng nghe nhạc trực tuyến Zing MP3) đã khởi kiện Tiktok Inc (chủ sở hữu của mạng xã hội chia sẻ video ngắn Tiktok) đến Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh với cáo buộc Tiktok thực hiện hành vi truyền đạt đến công chúng nhiều bản ghi âm, ghi hình cuộc biểu diễn tác phẩm âm nhạc do VNG là chủ sở hữu quyền tác mà không có sự đồng ý của VNG, cấu thành hành vi xâm phạm quyền liên quan theo khoản 8 điều 35 Luật sở hữu trí tuệ

Trong bối cảnh các quy định pháp luật về trách nhiệm của các nền tảng trong việc thực thi quyền tác giả trên môi trường số hiện nay là vấn đề nóng hổi (và nhạy cảm) tại Việt Nam cũng nhiều quốc gia trên thế giới, vụ kiện của VNG va TikTok Inc. sẽ là cuộc chiến nhiều cuốn hút giữa những nền tảng nhiều quyền lực. Kết quả của cuộc chiến này nhiều khả năng sẽ được giải quyết thực sự thông qua các biện pháp ngoài tòa án. Tuy nhiên, khi được nhắc lại rằng chính bản thân VNG cũng từng là bị đơn của nhiều vụ kiện tương tự từ các tác giả, nghệ sĩ, câu hỏi sau cùng cần được giải quyết không phải là bản án của vụ kiện trên mà là việc làm thế nào những vụ kiện như vậy có thể trở thành công cụ pháp lý hiệu quả ngay cả với các cá nhân sáng tạo nội dung. 

Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian (ISP) từ lâu đã hưởng lợi từ các trường hợp ngoại lệ dành cho trạng thái trung lập của mình. Theo đó, các ISP chỉ phải gỡ các nội dung xâm phạm quyền tác giả nếu họ được thông báo về vi phạm đó một cách hợp lý. Người thông báo thường là chủ sở hữu quyền tác giả bị xâm phạm (cá nhân sáng tạo nội dung). Câu hỏi đặt ra là với khối lượng thông tin khổng lồ được đăng tải mỗi ngày lên internet, bằng cách nào các nghệ sỹ, nhạc sỹ, youtuber,.. có thể kiểm soát được các nội dung của người khác đăng tải lên xâm phạm quyền của mình?

Thực tế trên còn đi kèm với vấn đề của trò chơi chuột chũi (whack-a-mole problem). Theo đó, nếu người chơi cố gắng bắt con chuột ở hang này, con chuột sẽ ngay sau đó xuất hiện ở một hang khác. Người chơi sẽ không thể biết được tiếp theo chú chuột sẽ lại xuất hiện ở hang nào. Trò chơi cứ như vậy tiếp diễn. Như vậy, vấn đề không phải là bắt một con chuột, mà quan trọng hơn là làm sao để con chuột đó không tái xuất hiện một cách quá dễ dàng ở một chiếc hang khác. Việc chống hành vi xâm phạm quyền tác giả trên các nền tảng mạng xã hội hiện nay cũng giống như trò chơi bắt chuột chũi. Nếu một nội dung xâm phạm bị gỡ đi ở bài đăng này, nội dung vi phạm đó có thể được đăng tải lại dễ dàng ngay sau đó ở một bài đăng khác. Do đó, nếu không có giải pháp hỗ trợ các tác giả “bắt chuột” hiệu quả, cuộc chơi đang ngày càng mất cân bằng theo hướng bất lợi cho người sáng tạo nội dung. 

Để phần nào giải quyết vấn đề trên, ngày 26/3/2019, Nghị viện châu Âu đã thông qua Đạo luật bản quyền trong môi trường số trong một nỗ lực tìm kiếm trạng thái “cân bằng hợp lý” giữa chủ sở hữu quyền và các nền tảng. Điểm gây tranh cãi nhất là điều 17 của Đạo luật này, trong đó các nhà lập pháp Châu Âu yêu cầu các công ty trung gian cung cấp dịch vụ internet chủ động kiểm soát và gỡ các nội dung xâm phạm quyền tác giả của chủ thể khác mà không cần thông báo từ chủ sở hữu quyền. Luật trên sẽ có hiệu lực từ năm 2021 trên toàn lãnh thổ châu Âu. Mặc dù còn nhiều tranh cãi rằng Đạo luật bản quyền mới sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến quyền tự do ngôn luận, tự do tiếp cận thông tin và sẽ “làm thay đổi internet mãi mãi”, tác động tích cực trước mắt là quyền tác giả của những người sáng tạo nội dung sẽ được bảo vệ tốt hơn. Điều này là bước đi đầu tiên xóa bỏ trạng thái trung lập cực đoạn mà các ISP đang hưởng lợi. 

Tại Việt Nam, hiện tại, về cơ bản, Thông tư liên tịch 07/2012/TTLT-BTTTT-BVHTTDL giải quyết trách nhiệm của các ISP đang áp dụng cơ chế thông báo và gỡ (“notice-and-takedown”) như cách tiếp cận của Hoa Kỳ và EU (trước khi Đạo luật bản quyền mới có hiệu lực). Mặc dù vậy, trong khi EU và Hoa Kỳ yêu cầu các ISP tháo gỡ nội dung nếu có thông báo đáng tin cậy từ chủ sở hữu quyền, Việt Nam chỉ yêu cầu các ISP xóa bỏ nội dung theo thông báo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, hiếm khi các Cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu gỡ một nội dung xâm phạm quyền tác giả của một cá nhân. Như vậy, mặc dù có sự học hỏi về cách tiếp cận, Việt Nam đã không đạt được mức độ bảo vệ các tác giả mạnh như Hoa Kỳ và EU đang áp dụng. 

Sự khác biệt trong cách tiếp cận của pháp luật Việt Nam xuất phát một phần từ chính sự khác biệt trong văn hóa Phương Tây và phương Đông về vấn đề bảo vệ quyền của tác giả. Trong khi các nước theo trường phái thông luật phương Tây đề cao học thuyết của Jonh Locke về quyền sở hữu đối với thành quả lao động, các nước thuộc hệ thống dân luật và các quốc gia phương Đông đề cao giá trị cộng đồng của tác phẩm hơn là tính sở hữu cá nhân. Ngoài ra, luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, với việc ra đời năm 2005 như một yêu cầu phải đáp ứng để gia nhập WTO, đã lạc hậu và không thể dự liệu được sự bùng nổ của internet và nền kinh tế nền tảng như hiện nay. 

Với tư cách là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển internet nhanh nhất thế giới và có mục tiêu hướng đến hình thành nền kinh tế số, Việt Nam đang là người đến sau trong tiến trình hoàn thiện của luật về quyền tác giả trên internet. Mặc dù theo đề án chuyển đổi số quốc gia, đến năm 2025, Việt Nam sẽ có khoảng 50% doanh nghiệp kinh doanh trên nền tảng số, khung pháp lý về bảo vệ quyền tác giả trên môi trường số tại Việt Nam hiện nay vẫn chưa đầy đủ. Thông tư liên tịch 07/2012/TTLT-BTTTT-BVHTTDL như đề cập chỉ có vỏn vẹn tám điều khoản, trong đó chỉ có hai điều khoản quy định trực tiếp về cơ chế xử lý trách nhiệm của các ISP tại Việt Nam. Hiện tại, Dự thảo nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin điện tử mà Bộ Thông tin và Truyền thông đang lấy ý kiến vẫn tiếp tục giữ im lặng về vấn đề này. Đây chính là điểm nghẽn dễ thấy nhất trong khung pháp lý về trách nhiệm của ISP tại Việt Nam hiện nay.  

Cách mạng công nghệ thông tin nổi lên trong bối cảnh giá trị của luật về quyền tác giả đang bị thách thức bởi các nguyên tắc truyền thống của chính nó. Giờ đây Việt Nam đang đối mặt trực diện với vấn đề lớn nhất mà luật về quyền tác giả hiện đại đang phải đối mặt: giải quyết các ngoại lệ truyền thống của luật trong bối cảnh môi trường mới và đồng thời duy trì động lực phát triển của nền kinh tế số với tư cách là quốc gia đang phát triển. 

Dù muốn hay không, Việt Nam buộc phải đưa ra lựa chọn chính sách. Việc ban hành một dự luật quá khắt nghiệt như cách EU đang thực hiện không thể là giải pháp tốt cho quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam hoàn toàn có thể tiếp cận giải pháp đó theo cách thức nhẹ nhàng và linh động hơn. Các quy định về trách nhiệm của các ISP trong việc bảo vệ quyền tác giả cần được điều chỉnh để bảo đảm mức độ bảo hộ thỏa đáng và cân bằng giữa một bên là quyền lợi của chủ thể quyền và một bên là quyền sử dụng, quyền tiếp cận tri thức, công nghệ của xã hội cũng như đề cao vai trò “gác cổng” của các ISP. Trong bối cảnh chuẩn bị sửa đổi luật sở hữu trí tuệ và thực thi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU, các nhà lập pháp nên cân nhắc các vấn đề trên. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể đảm bảo được sự đa dạng và bền vững của nền kinh tế số.

Read more...