dat le-hoa tran TV

Bài viết liên quan

Sự Cần Thiết Của Tòa Án Chuyên Trách Sở Hữu Trí Tuệ (phần 1)

Theo Khoản 1 Điều 99 Luật SHTT hiện hành, tuỳ theo tính chất, mức độ của hành vi xâm phạm quyền SHTT, người xâm phạm có thể bị xử lý bằng biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự. Việc áp dụng biện pháp dân sự, hình sự thuộc thẩm quyền của Toà án, việc áp dụng biện pháp hành chính thuộc thẩm quyền của các cơ quan Thanh tra, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Uỷ ban nhân dân các cấp.

Trong phạm vi bài tiểu luận này, người viết tập trung đề cập đến biện pháp dân sự mà một cá nhân, tổ chức, pháp nhân có thể thực hiện tại TAND để có thể bảo vệ quyền SHTT của mình. Khi xảy ra tranh chấp về tài sản trí tuệ, chủ sở hữu tài sản trí tuệ căn cứ theo quy định pháp luật số tụng dân sự để khởi kiện ra toà án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Các biện pháp dân sự được áp dụng để xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi xân phạm quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại Điều 202 Luật SHTT 2005 bao gồm: buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; buộc bồi thường thiệt hại; buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền SHTT với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thế quyền SHTT.

Cơ chế thực thi tại TAND

1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp SHTT của TAND

Theo quy định của BLTTDS năm 2015 thì thẩm quyền giải quyết các tranh chấp SHTT của TAND theo tố tụng dân sự được xác định như sau:

  • Nếu tranh chấp SHTT thuần túy là tranh chấp dân sự, thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện;
  • Nếu tranh chấp SHTT thuần túy là tranh chấp dân sự nhưng có đương sự hoặc đối tượng SHTT ở nước ngoài, thuộc quyền của Tòa án cấp tỉnh;
  • Nếu tranh chấp SHTT giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận được coi là tranh chấp thương mại, kinh doanh và thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh.

2. Biện pháp dân sự để xử lý xâm phạm quyền SHTT tại TAND

Như trên đã đề cập, các biện pháp dân sự theo quy định tại Điều 202 Luật SHTT 2005 bao gồm:

  • Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;
  • Buộc xin lỗi, cải chính công khai; 
  • Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; 
  • Buộc bồi thường thiệt hại; 
  • Buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền SHTT với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thế quyền SHTT.

Các biện pháp dân sự được đề cập ở trên được xem là các biện pháp xử lý mà TAND có thể áp đặt lên một bên nếu bên đó có hành vi xâm phạm đến quyền SHTT mà bên khởi kiện là chủ thể đối với quyền đó. 

3. Chứng cứ và chứng minh

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 1 Nghị định 119/2010/NĐ-CP, để chứng minh mình là chủ thể của quyền SHTT, bên yêu cầu bảo vệ quyền SHTT phải cung cấp một trong các loại văn bản:

  • Bản sao Bằng độc quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí, Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý, Bằng bảo hộ giống cây trồng, Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan nộp kèm theo bản chính để đối chiếu, trừ trường hợp bản sao đã được chứng thực theo quy định;
  • Bản trích lục Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp; Bản trích lục Sổ đăng ký quốc gia về quyền tác giả, quyền liên quan; Bản trích lục Sổ đăng ký quốc gia về giống cây trồng được bảo hộ do cơ quan có thẩm quyền đăng ký các đối tượng đó cấp;
  • Đối với nhãn hiệu được đăng ký quốc tế, chứng cứ chứng minh chủ thể quyền là bản sao giấy Chứng nhận nhãn hiệu đăng ký quốc tế được bảo hộ tại Việt Nam do cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp cấp nộp kèm theo bản chính để đối chiếu, trừ trường hợp bản sao đã được chứng thực theo quy định.

Sau khi đã chứng minh được tư cách của chủ thể có quyền đối với quyền SHTT, bên yêu cầu phải cung cấp chứng cứ và chứng minh các yêu cầu thực thi biện pháp dân sự của mình là có căn cứ và hợp pháp theo quy định của BLTTDS. Trường hợp chứng cứ thuộc sự kiểm soát của bên bị yêu cầu và bên bị yêu cầu từ chối cung cấp, TAND có quyền buộc bên bị yêu cầu phải cung cấp. Trường hợp biện pháp dân sự được yêu cầu là bồi thường thiệt hại, ngoài nguyên tắc chung của pháp luật liên quan đến bồi thường thiệt hại, Luật SHTT cũng cung cấp rõ hơn các quy định về xác định hành vi xâm phạm và xác định mức độ thiệt hại, do lĩnh vực SHTT là một lĩnh vực đặc thù và việc xác định các yếu tố nói trên không phải lúc nào cũng rõ ràng.

4. Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Các biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng khi có yêu cầu của một bên có căn cứ cho rằng chứng cứ hoặc tình trạng hiện có của sự việc có khả năng bị thay đổi hoặc vì một nhu cầu cấp bách chính đáng, một bên có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của Luật SHTT bao gồm: thu giữ; kê biên; niêm phong; cấm thay đổi hiện trạng; cấm di chuyển; cấm chuyển dịch quyền sở hữu; và các biện pháp khác theo quy định của BLTTDS.

Thủ tục tố tụng để thực thi các biện pháp khẩn cấp tạm thời tuân theo quy định tại Điều 208, 209 và 210 Luật SHTT, và về cơ bản sẽ đều tuân theo các quy định của BLTTDS.

Read more...

Kê Biên Tài Sản Bảo Đảm Tại Tổ Chức Tín Dụng

Những năm qua hoạt động thi hành án dân sự (“THADS”) liên quan đến tín dụng, ngân hàng đang là vấn đề nan giải vì mặc dù các cơ quan thi hành án dân sự đã rất cố gắng, nỗ lực để giải quyết nhưng kết quả thi hành án đạt được chưa như kỳ vọng khi tỷ lệ thi hành án còn thấp, số tiền, số việc phải thi hành án còn lớn, tiến độ thi hành án còn kéo dài.

Để đẩy mạnh hiệu quả hoạt động thi hành án trong linh vực này, Quốc Hội đã ban hành Nghị quyết 42/2017/QH14 (“Nghị Quyết 42”) như một công cụ pháp lý hỗ trợ cơ quan THADS và các Tổ Chức Tín Dụng trong quá trình xử lý nợ xấu. Việc ban hành Nghị Quyết 42 nhằm đảm hoạt động xử lý các khoản nợ xấu tránh trường hợp chấp hành viên (“CHV”) kê biên tài sản bảo đảm của người phải THA đang bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ tại các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài để thực hiện các nghĩa vụ khác không phù hợp với quy định của Nghị quyết làm ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ của các tổ chức tín dụng.

Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ tập trung phân tích và đưa ra các tình huống thực tiễn liên quan đến việc thực hiện kê biên tài sản của người phải thi hành án đang được cầm cố, thế chấp tại các tổ chức tín dụng.

1. Trường hợp tổ chức tín dụng là người được thi hành án

Hoạt động kê biên tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng là một trường hợp cụ thể của biện pháp kê biên tài sản – đây là một biện pháp cưỡng chế THADS, nên nếu muốn áp dụng biện pháp này thì đầu tiên cần phải có đầy đủ căn cứ để cưỡng chế THA. Theo quy định tại Điều 70 Luật THADS thì căn cứ để cưỡng chế THA bao gồm: (1) Bản án, quyết định; (2) Quyết định thi hành án; (3) Quyết định cưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong tỏa tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án.

Khi có một trong các căn cứ nêu trên thì CHV tổ chức thực hiện kê biên. Tuy nhiên, cần đặc biệt lưu ý là bản án, quyết định được nêu ở mục (1) phải là các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng phải rơi vào trường hợp được thi hành ngay. 

Ngoài các căn cứ nêu trên thì để thực hiện hoạt động kê biên tài sản bảo đảm trong trường hợp người được THA là TCTD thì còn cần phải có các điều kiện sau:

Thứ nhất: Người phải THA có điều kiện THA nhưng không tự nguyện THA

“Có điều kiện thi hành án” là trường hợp người phải thi hành án có tài sản, thu nhập để thi hành nghĩa vụ về tài sản; tự mình hoặc thông qua người khác thực hiện nghĩa vụ thi hành án . Việc xác định người phải THA có điều kiện hay không có điều kiện THA sẽ do CHV xác định thông qua thủ tục xác minh điều kiện THA. Tuy nhiên, trong trường hợp kê biên tài sản bảo đảm thì CHV luôn xác định người phải THA là người có đủ điều kiện THA dựa trên việc người phải THA đang có tài sản bảo đảm tại TCTD.

Thứ hai: Chỉ thực hiện việc kê biên tài sản bảo đảm khi hết thời gian tự nguyện THA mà người phải THA không tự nguyện THA

Thời hạn tự nguyện THA là 10 ngày, kể từ ngày người phải THA nhận được quyết định THA hoặc được thông báo hợp lệ quyết định THA. Việc ấn định thời gian tự nguyện THA là thủ tục bắt buộc và là thủ tục đầu tiên của các CHV khi được phân công tổ chức THA. Khi hết thời gian tự nguyện mà người phải THA không tự nguyện THA hoặc thi hành không đầy đủ nghĩa vụ của mình thì CHV mới áp dụng biện pháp cưỡng chế để buộc người đó thực hiện đúng nghĩa vụ như trong bản án, quyết định. 

Như vậy, CHV tiến hành kê biên tài sản bảo đảm khi có một trong các căn cứ theo quy định tại Điều 70 Luật THADS và chỉ thực hiện kê biên tài sản bảo đảm (TSBĐ) trong trường hợp hết thời gian tự nguyện THA mà người phải THA tuy có điều kiện để THA nhưng không tự nguyện thi hành án.

2. Trường hợp tài sản của người phải THA đang được cầm cố, thế chấp tại TCTD mà TCTD không phải là người được THA

Theo quy định tại Điều 90 Luật THADS quy định về kê biên, xử lý tài sản đang cầm cố, thế chấp thì CHV chỉ được kê biên loại tài sản này trong trường hợp:

  • Người phải THA không còn tài sản nào khác ngoài tài sản đang cầm cố, thế chấp tại TCTD hoặc có nhưng tài sản không đủ để THA.
  • Tài sản đang cầm cố, thế chấp tại TCTD có giá trị lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án.

Ví dụ

Ngày 01/12/2014, ông A thế chấp ngôi nhà trị giá 5 tỷ đồng cho ngân hàng để vay số tiền 3 tỷ đồng, thời hạn vay 12 tháng kể từ ngày 01/12/2014. Ngày 01/03/2015, bà B khởi kiện đòi ông A khoản nợ 1 tỷ đồng, tại Bản án số 01/DSST ngày 01/05/2015 của Tòa án nhân dân huyện T buộc ông A phải trả cho bà B khoản nợ 1 tỷ đồng. Ngày 15/05/2015, bà B yêu cầu THA. Cơ quan THADS xác định ngôi nhà ông A thế chấp cho ngân hàng đến thời điểm đó cả gốc và lãi là 3,5 tỷ đồng; chi phí cưỡng chế THA khoảng 300 triệu đồng. Ngoài ngôi nhà nêu trên, ông A không còn tài sản khác có giá trị để THA. Trong trường hợp này, cơ quan THADS có quyền kê biên, xử lý ngôi nhà của ông A để THA, mặc dù hợp đồng vay tiền có thế chấp tài sản giữa ông A và ngân hàng chưa đến hạn (01/12/2015).

Khi thực hiện hoạt động kê biên tài sản cầm cố, thế chấp tại các TCTD thì CHV cần phải thông báo ngay cho TCTD có tài sản bị kê biên biết và trong trường hợp này khoản nghĩa vụ được bảo đảm của TCTD đó được ưu tiên thanh toán.

Đồng thời, theo khoản 3 Điều 24 Nghị định 62/2015/NĐ-CP cũng quy định: “Đối với tài sản đã được cầm cố, thế chấp hợp pháp mà kết quả xác minh tại thời điểm thi hành án cho thấy tài sản có giá trị bằng hoặc nhỏ hơn nghĩa vụ phải thanh toán theo hợp đồng cầm cố, thế chấp thì Chấp hành viên phải thông báo bằng văn bản cho người nhận cầm cố, thế chấp biết nghĩa vụ của người phải thi hành án và yêu cầu khi thanh toán hết nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc khi xử lý tài sản cầm cố, thế chấp phải thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự biết”. Trong trường hợp này, cơ quan THADS chỉ được kê biên, xử lý tài sản sau khi tài sản đã được giải chấp hoặc khi đã khấu trừ phần tiền còn lại sau khi TCTD đã xử lý tài sản để thanh toán hợp đồng đã ký (nếu có).

Tuy nhiên, trong trường hợp khi cơ quan THADS đang tổ chức THA mà xác định người phải THA có tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại các TCTD thì không chỉ áp dụng Điều 90 Luật THADS mà còn phải áp dụng kết hợp Điều 11 Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng để giải quyết. Điều 11 Nghị quyết 42/2017/QH14 quy định: “Các tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của bên phải thi hành án đang bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu không bị kê biên để thực hiện nghĩa vụ khác theo quy định tại Điều 90 của Luật Thi hành án dân sự, trừ trường hợp thi hành bản án, quyết định về cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và trường hợp có sự đồng ý bằng văn bản của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu.” Việc áp dụng kết hợp quy định tại Điều 90 Luật THADS và Điều 11 Nghị quyết 42/2017/QH14 là để đảm bảo đáp ứng điều kiện cần (thi hành bản án, quyết định về cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và trường hợp có sự đồng ý bằng văn bản của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu) và điều kiện đủ (giá trị tài sản lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án và không có tài sản khác để thi hành án) trong quá trình giải quyết vụ việc.

Ví dụ 1: 

Cơ quan THADS đang tổ chức thi hành bản án buộc ông A phải thi hành án trả nợ cho bà B số tiền 300 triệu đồng. Kết quả xác minh được biết ông A có tài sản duy nhất là nhà đất diện tích 500m2 nhưng đang thế chấp tại ngân hàng X để vay số tiền 400 triệu đồng. Kết quả xác minh được biết giá trị tài sản này khoảng 1 tỷ đồng và ngân hàng X cho biết đây là khoản nợ xấu thuộc nhóm 3 và ngân hàng chưa xử lý tài sản cũng không đồng ý để cơ quan THADS xử lý. Nếu theo quy định Điều 90 Luật THADS thì cơ quan THADS được quyền kê biên tài sản để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án của ông A đối với bà B. Tuy nhiên, dẫn chiếu đến quy định tại Điều 11 Nghị quyết 42/2017/QH14 thì trường hợp này cơ quan THADS không được kê biên vì đây là tài sản đang bảo đảm cho khoản nợ xấu của TCTD; nghĩa vụ phải thi hành án của ông A mà cơ quan THADS đang tổ chức thi hành là nghĩa vụ trả nợ thông thường không thuộc trường hợp thi hành án cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và ngân hàng X cũng không đồng ý để cơ quan THADS xử lý.

Ví dụ 2: 

Cơ quan THADS tỉnh Tiền Giang đang tổ chức thi hành Bản án số 32/2015/HSST buộc ông Hải phải bồi thường cho bà Hà số tiền 120 triệu đồng (do tội giết người). Quá trình tổ chức thi hành án, xác minh được biết ông Hải chỉ có tài sản duy nhất là diện tích đất và nhà ở đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – chi nhánh Tiền Giang để vay số tiền 200 triệu đồng. Kết quả xác minh được biết giá trị tài sản khoảng 800 triệu đồng. Trong trường hợp này, đối chiếu quy định của Điều 11 Nghị quyết 42/2017/QH14 thì Chấp hành viên được quyền kê biên xử lý theo quy định. Tuy nhiên, nếu ngân hàng Công thương có văn bản xác định đây là khoản nợ xấu và ngân hàng đang thu giữ tài sản để xử lý theo Nghị quyết 42 thì dẫn chiếu đến quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC, Chấp hành viên không được kê biên xử lý tài sản của ông Hải để thi hành án vì tài sản này ngân hàng đang xử lý.

Tuy nhiên, đối với trường hợp cơ quan Thi hành án dân sự đã thực hiện việc kê biên theo quy định tại Điều 90 Luật thi hành án dân sự trước ngày 15/08/2017 thì vẫn tiếp tục tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự

Từ hai ví dụ trên có thể thấy quyền hạn của CHV khi thực hiện xử lý tài sản bảo đảm của người phải THA theo quy định tại Điều 90 Luật THADS đã phần nào bị hạn chế bởi quy định của Nghị quyết 42. 

Thêm vào đó, Điều 13 Nghị quyết 42/2017/QH14 còn quy định về việc các TCTD được quyền bán khoản nợ xấu có tài sản bảo đảm đang bị kê biên cho các tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu, doanh nghiệp có chức năng kinh doanh mua, bán nợ. Trước khi thực hiện hoạt động bán khoản nợ xấu, TCTD có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và trung thực thông tin về tình trạng bị kê biên của tài sản bảo đảm. Bên mua sẽ tự đánh giá và tự xác định rủ ro đối với việc mua khoản nợ này.

Read more...

Xây dựng và áp dụng hiệu quả quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc theo BLLĐ 2019 (Phần 2)

(Phần 2: Các lưu ý khi xây dựng, ban hành và áp dụng Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc)

Các yếu tố cần lưu ý và cân nhắc khi xây dựng Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc:

Theo quy định tại BLLĐ 2019 và các văn bản hướng dẫn có liên quan, Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc không được quy định cụ thể và bắt buộc về hình thức cũng như các nội dung cơ bản cần thiết phải có. Điều này vừa là trở ngại, vừa là lợi thế cho NSDLĐ khi có thể xây dựng Quy chế theo ý chí và mong muốn quản lý chủ quan của mình. Tuy nhiên, để Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc được chấp thuận bởi cơ quan có thẩm quyền, dễ dàng áp dụng và áp dụng hiệu quả thì NSDLĐ cần quan tâm và cân nhắc đến các yếu tố được đề xuất và đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn như dưới đây trong quá trình xây dựng và cụ thể hóa bằng văn bản Quy chế này: 

1. Trước tiên, bất kỳ văn bản nào chứa đựng nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật sẽ không được cơ quan có thẩm quyền công nhận, không có hiệu lực thi hành hoặc sẽ bị hủy bỏ bởi cơ quan có thẩm quyền khi có tranh chấp phát sinh kể cả khi văn bản đó được ban hành đúng quy trình. Do vậy, điều kiện tiên quyết để Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc có hiệu lực toàn phần là không chứa đựng bất kỳ nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc bị pháp luật hạn chế hoặc thận trọng hơn là không có nội dung pháp luật chưa cho phép và không quy định khi chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện luật định. 

2. Bên cạnh đó, xuất phát từ bản chất như một “đạo luật” điều chỉnh trực tiếp hành vi, hoạt động, quá trình thực hiện công việc, công tác của NLĐ và là công cụ quản lý hợp pháp của NSDLĐ đối với NLĐ thì Nội quy lao động và Thỏa ước lao động tập thể (nếu có) sẽ có giá trị áp dụng ưu tiên trước nhất khi điều chỉnh các vấn đề liên quan đến lao động. Vì vậy, bên cạnh việc đáp ứng các quy định pháp luật, Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc còn phải phù hợp, nhất quán và có thể bổ trợ cho các quy định tại Nội quy lao động, Thỏa ước lao động tập thể (nếu có). Việc xây dựng các văn bản quản lý NLĐ nội bộ phù hợp, không có điều khoản đối nghịch và nhất quán với các quy định, quy chế khác do NSDLĐ ban hành trước đó cũng như phù hợp với kế hoạch/định hướng phát triển kinh doanh của NSDLĐ cũng là một vấn đề quan trong cần được xem xét. 

3. Ngoài ra, như đã đề cập, Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc không bị ràng buộc về mặt hình thức lẫn nội dung. Đây được xem là lợi thế mà “hiếm khi” pháp luật về lao động trao cho NSDLĐ. Do đó, NSDLĐ  có thể tận dụng điều này để xây dựng các tiêu chí đánh giá NLĐ thích hợp nhất với các đặc thù, đặc tính riêng biệt trong lĩnh vực kinh doanh và văn hóa của doanh nghiệp mình. 

4. Đối với nhóm công việc có đặc tính định lượng được như bán hàng, tham gia hoạt động sản xuất, chăm sóc khách hàng, NSDLĐ nên cụ thể hóa các chỉ tiêu đánh giá mức độ hoàn thành công việc của NLĐ bằng những con số, tỷ lệ nhất định phù hợp với mỗi vị trí, chức danh mà NLĐ đảm nhiệm. Tuy nhiên, cách thức nêu trên sẽ gây ra nhiều khó khăn hơn cho NSDLĐ khi đánh giá NLĐ làm công việc có đặc tính định tính như các công việc về du lịch, kế toán, pháp lý, thiết kế, nghệ thuật, phục vụ, … Khi đó, NSDLĐ nên cân nhắc đến các yếu tố kết quả thực hiện công việc, thời gian xử lý, khối lượng công việc hoặc sự sáng tạo hoặc phản hồi/đánh giá của khách hàng đối với NLĐ, … để xây dựng tiêu chí đánh giá chuẩn xác. Những tiêu chí đánh giá này nên là những tiêu chí được đúc kết trong quá trình hoạt động thực tế của doanh nghiệp để có thể phản ánh được chính xác nhất được mức độ hoàn thành công việc của NLĐ.

5. Yếu tố “thường xuyên không hoàn thành công việc” là yếu tố cần được chú trọng và làm rõ tại Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc. Trong trường hợp nào NLĐ sẽ bị xem là không đạt, không hoàn thành công việc và việc này được lặp đi lặp lại bao nhiêu lần trong thời gian bao lâu sẽ bị xem là thường xuyên không hoàn thành công việc. Các vấn đề tại đây nếu không rõ ràng, cụ thể sẽ khó khăn khi áp dụng hoặc xảy ra tranh chấp với NLĐ trong những tình huống thực tế. NSDLĐ được khuyến nghị rằng việc xác định NLĐ thường xuyên không hoàn thành công việc để có bất kỳ hành động nào chỉ nên được xem xét khi mà NLĐ không đạt định mức công việc ít nhất từ lần thứ hai trở lên trong một khoảng thời gian giới hạn hợp lý. 

6. Với mỗi vị trí, chức danh công việc khác nhau nên có những tiêu chí, cấp độ đánh giá riêng thay vì “cào bằng” để tạo ra sự khách quan. Thêm vào đó, trong quá trình xây dựng Quy chế, NSDLĐ nên thu thập, tham khảo thêm các ý kiến, đề xuất của NLĐ, NLĐ thuộc cấp quản lý và các tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở (bao gồm Công đoàn cơ sở hoặc tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp) để có đánh giá khách quan, đa chiều và đạt được sự đồng thuận của NLĐ trong quá trình áp dụng và thực hiện. 

7. Để Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc có thể tối ưu các chức năng, NSDLĐ cần phân loại các nhóm và mức độ hành vi tương ứng với các hình thức xử lý kỷ luật lao động nhất định được quy định tại Nội quy lao động đã được đăng ký hợp pháp. Trong trường hợp này, Nội quy lao động của NSDLĐ phải đề cập, dẫn chiếu đến Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc như một phần gắn liền, không thể thiếu của Nội quy lao động. 

8. Xin đề cập thêm rằng, một số yếu tố khác mà NSDLĐ cũng nên quan tâm để hoàn thiện hơn Quy chế giá mức độ hoàn thành công việc như tham khảo thêm các tiêu chí đánh giá NLĐ trên thị trường lao động tương đương nhằm tạo ra sự phù hợp, hài hòa trong các tiêu chí đánh giá của mình; nên quy định rõ ràng các mức độ hoàn thành công việc gắn liền với hình thức khen thưởng, kỷ luật tương ứng để dễ dàng theo dõi và thực hiện; các yếu tố về thái độ làm việc, tính tuân thủ kỷ luật, tính sáng tạo và quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp có thể xem xét như một tiêu chí đánh giá. 

Việc xây dựng và hoàn thiện một Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc hoàn chỉnh, phù hợp và nhận được sự đồng thuận của NLĐ sẽ tạo ra nhiều giá trị cho NSDLĐ, bao gồm: (i) là công cụ để NSDLĐ đánh giá, xác định năng lực của NLĐ khi cần thiết dựa trên cơ sở xác thực, không ảnh hưởng đến tâm lý chung của NLĐ khác và hoạt động kinh doanh của NSDLĐ; (ii) thúc đẩy NLĐ làm việc hiệu quả để không bị sàng lọc hoặc được công nhận và khen thưởng; (iii) bảo vệ và giảm thiểu rủi ro gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi của doanh nghiệp trong các tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện của NLĐ. 

Một số lưu ý khi ban hành và áp dụng Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc:  

Để áp dụng được Quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ do NLĐ thường xuyên không hoàn thành công việc thì bên cạnh việc xây dựng Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc với các tiêu chí đánh giá cụ thể, rõ ràng, NSDLĐ còn phải ban hành và áp dụng công khai Quy chế này theo trình tự, thủ tục nhất định. Một trong số các trình tự, thủ tục mà NSDLĐ phải thực hiện đó là tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở đối với bản dự thảo Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc trước khi quyết định ban hành để áp dụng. Thủ tục tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở được thực hiện thông qua hình thức đối thoại tại nơi làm việc. Thành phần tham gia đối thoại tại nơi làm việc sẽ bao gồm đại diện của NSDLĐ, NLĐ hoặc tổ chức đại diện NLĐ. Thông thường, tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở tham gia đối thoại là Công đoàn cơ sở. Trong trường hợp doanh nghiệp chưa thành lập Công đoàn cơ sở thì Công đoàn cấp trên trực tiếp (hay còn gọi là Liên đoàn lao động cấp quận/huyện) sẽ thực hiện vai trò thay thế. 

Để bắt đầu giai đoạn đối thoại, NSDLD có trách nhiệm gửi văn bản đề nghị kèm theo bản dự thảo Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc đến tổ chức đại diện NLĐ để tham khảo ý kiến. Khi đó, tổ chức đại diện NLĐ sẽ tiến hành tổ chức đối thoại theo quy định pháp luật để lấy ý kiến của tập thể NLĐ đối với dự thảo Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc và tổng hợp thành văn bản để gửi cho NSDLĐ. Dựa trên các ý kiến được tổng hợp này, NSDLĐ và NLĐ sẽ thảo luận, trao đổi và đi đến thống nhất các nội dung. Tuy nhiên, trên thực tế đối với các doanh nghiệp chưa thành lập Công đoàn cơ sở thì thông thường NSDLĐ sẽ trực tiếp tổ chức thu thập ý kiến hoặc ghi nhận xác nhận từ NLĐ, từ đó có cơ sở để đề nghị Công đoàn cấp trên trực tiếp xem xét và chấp thuận dự thảo Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc. 

Sau khi nhận được sự đồng thuận của NLĐ cũng như sự chấp thuận của tổ chức đại diện NLĐ, NSDLĐ quyết định ban hành bản Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc hoàn chỉnh. Đồng thời, Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc hoàn chỉnh được thông báo đến từng bộ phận trong doanh nghiệp để áp dụng công khai và thống nhất.

Kết luận:  

Mặc dù BLLĐ 2019 có hiệu lực thay thế BLLĐ 2012 đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định để bảo vệ tốt hơn quyền lợi của NSDLĐ, trong đó phải kể đến việc luật hóa chế định “Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc” để làm rõ hơn quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NSDLĐ khi NLĐ không hoàn thành công việc theo thỏa thuận tại HĐLĐ. Tuy nhiên, pháp luật về lao động nói chung và thực tiễn xét xử tại Việt Nam nói riêng vẫn được xây dựng và áp dụng trên tinh thần bảo vệ bên yếu thế hơn trong quan hệ lao động là NLĐ. Do đó, chúng tôi khuyến nghị rằng trong mọi hành động, quyết định liên quan đến việc xây dựng và vận dụng Quy chế này trong việc quản lý, điều hành hoặc chấm dứt mối quan hệ lao động, NSDLĐ cần cân nhắc, thận trọng và đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định và tuân thủ nghiêm ngặt trình tự, thủ tục thực hiện. Trong trường hợp cần thiết, NSDLĐ nên tham vấn ý kiến của luật sư trước khi tiến hành để hạn chế tối đa các thiệt hại phát sinh. 

Xem thêm: Xây dựng và áp dụng hiệu quả quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc theo BLLĐ 2019 (Phần 1).

Read more...

Xây dựng và áp dụng hiệu quả quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc theo BLLĐ 2019 (phần 1)

(Phần 1: Tổng quan về Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc)

Xuất phát từ hậu quả pháp lý nghiêm trọng của việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (“HĐLĐ”), các quy định về quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của người lao động (“NLĐ”) và người sử dụng lao động (“NSDLĐ”) luôn được Nhà nước chú trọng. Kế thừa và phát huy các quy định tại Bộ luật Lao động 2012 (“BLLĐ 2012”), Bộ luật Lao động 2019 (“BLLĐ 2019”) đã có nhiều sửa đổi, bổ sung, cập nhật và điều chỉnh các quyền này. Trong đó, quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NSDLĐ được quan tâm và bảo vệ nhiều hơn để cân bằng quyền lợi với NLĐ, đặc biệt trong trường hợp NLĐ thường xuyên không hoàn thành công việc theo HĐLĐ đã ký kết. 

Tổng quan về Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc:

Việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ đối với NLĐ thường xuyên không hoàn thành công việc theo HĐLĐ được xác định trên cơ sở đánh giá thông qua các tiêu chí cụ thể tại Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do NSDLĐ ban hành. Tuy nhiên, NSDLĐ còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc xây dựng, ban hành và áp dụng quy chế này do chưa được phổ biến và chưa có hướng dẫn cụ thể. Do đó, bài viết này sẽ cung cấp cho NSDLĐ cái nhìn tổng quan về Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc cũng như một số lưu ý khi xây dựng, ban hành và áp dụng hiệu quả quy chế này nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của NSDLĐ và đáp ứng các quy định pháp luật. 

Việc đánh giá công việc của NLĐ như thế nào được xem là hoàn thành hay không hoàn thành, hoặc hoàn thành ở mức độ thông thường hay xuất sắc, hoặc không hoàn thành ở mức độ thông thường hay thường xuyên trong điều kiện làm việc bình thường tại nơi làm việc là phức tạp và khó khăn cho NSDLĐ và những người quản lý NLĐ khác. Hơn thế, trong bối cảnh đại dịch Covid -19 diễn biến trên toàn cầu như hiện nay, việc thay đổi phương thức làm việc từ trực tiếp tại nơi làm việc, sản xuất, kinh doanh sang hình thức làm việc linh động hơn như trực tuyến tại nhà, luân phiên, quản lý từ xa thì việc đánh giá mức độ hoàn thành công việc càng trở nên khó khăn hơn. Khi đó, giải pháp nào để kiểm soát, quản lý và đánh giá đúng năng lực, hiệu suất công việc của NLĐ để có hành động, phương án xử lý phù hợp là câu hỏi lớn đang được đặt ra cho NSDLĐ. Và một Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc phù hợp, khách quan và chuẩn xác sẽ giải quyết được vấn đề nêu trên. 

Về nguyên tắc, việc ban hành Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc là không bắt buộc đối với NSDLĐ. Tuy nhiên, trong trường hợp NSDLĐ có nhu cầu đơn phương chấm dứt HĐLĐ với NLĐ thường xuyên không hoàn thành công việc thì Quy chế này là bắt buộc. Không dừng lại ở chức năng nêu trên, Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc được cho là công cụ hữu ích, đắc lực của NSDLĐ trong việc quản lý, đánh giá và ghi nhận đúng năng lực của NLĐ, từ đó có chính sách nhân sự phù hợp để thúc đẩy, giữ chân NLĐ có tiềm năng, đạt thành tích tốt trong công việc. Đồng thời, Quy chế này còn có thể xem là bảng quy chiếu rõ ràng nhất để mỗi NLĐ có thể tự theo dõi, đánh giá năng lực làm việc của mình so với mục tiêu NSDLĐ đề ra, từ đó có sự điều chỉnh phù hợp trong quá trình làm việc. 

Mặc dù vậy, thực trạng hiện nay chỉ có một số ít NSDLĐ dành sự quan tâm, đầu tư và nghiên cứu để xây dựng và ban hành Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc bằng văn bản một cách hoàn chỉnh. Hầu hết, các chỉ tiêu đánh giá về NLĐ, mức độ hoàn thành công việc của NLĐ là không rõ ràng hoặc chỉ được NSDLĐ quy định rời rạc tại nhiều thông báo, văn bản khác nhau; hoặc chỉ là các tiêu chí đánh giá “ngầm” giữa những người quản lý NLĐ. Trong trường hợp này, vướng mắc mà NSDLĐ gặp phải là khi có NLĐ thường xuyên làm việc không hiệu quả, không đạt các chỉ tiêu về doanh số, chất lượng công việc NSDLĐ đề ra và được đánh giá là không còn phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động của NSDLĐ nhưng NSDLĐ lại không có bằng chứng, tiêu chí rõ ràng, mạnh mẽ để đưa ra các đánh giá và kết luận về mức độ hoàn thành công việc của NLĐ theo HĐLĐ đã ký kết. Bên cạnh đó, NSDLĐ cũng không có cơ sở để quyết định các hình thức xử lý kỷ luật lao động thích hợp hoặc áp dụng biện pháp nặng hơn là đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Do đó, thông thường thì phần lớn NSDLĐ thường tìm đến các đơn vị tư vấn pháp lý với mong muốn có được giải pháp tối ưu cho việc chấm dứt HĐLĐ với những NLĐ này khi đã rơi vào tình trạng không có đủ cơ sở hoặc cơ sở không đủ mạnh mẽ, xác thực hoặc tiềm ẩn nhiểu rủi ro phải gánh chịu hậu quả pháp lý do việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật. 

Như vậy, có thể thấy rằng việc xây dựng Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc là cần thiết và Quy chế này đóng góp vai trò quan trọng, quyết định việc NSDLĐ có áp dụng được hay không quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ do NLĐ không hoàn thành công việc theo HĐLĐ. Đặc biệt trong bối cảnh môi trường làm việc có nhiều thay đổi, biến động và khó kiểm soát như hiện nay thì việc chấm dứt mối quan hệ lao động với NLĐ không có năng lực làm việc, không tâm huyết với doanh nghiệp là giải pháp tối ưu cho bài toán về chi phí và nhân sự. Ngoài ra, việc nhìn nhận đúng đắn vai trò, chức năng của Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc sẽ đem lại cho NSDLĐ những định hướng và hành động thích hợp nhằm xây dựng hệ thống quản lý NLĐ hoàn chỉnh hơn. 

Xem thêm: Xây dựng và áp dụng hiệu quả quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc theo BLLĐ 2019 (phần 2).

Read more...