Những rủi ro đối với người quản lý công ty cổ phần

BÀI VIẾT

Những rủi ro đối với người quản lý công ty cổ phần

Công ty cổ phần hiện nay đang là lựa chọn phổ biến của các nhà đầu tư, mà ở đó, sự phân chia giữa vai trò của chủ sở hữu công ty và người quản lý công ty được thể hiện khá rõ ràng. Chủ sở hữu công ty là Đại hội đồng cổ đông (“ĐHĐCĐ”) thường không đứng ra trực tiếp quản lý, vận hành hoạt động thường nhật, thay vào đó sẽ giao quyền và trách nhiệm cho Người quản lý công ty bao gồm Hội đồng quản trị (“HĐQT”), Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Vấn đề được đặt ra là Người quản lý có những trách nhiệm gì, và có thể phải chịu những rủi ro gì theo quy định pháp luật.

Luật Doanh nghiệp 2020 có quy định những trách nhiệm pháp lý ràng buộc đối với Người quản lý để hạn chế việc lạm quyền, tư lợi và bảo vệ lợi ích của cổ đông, đồng thời tạo cơ sở cho việc xây dựng cơ chế phân cấp thẩm quyền quản trị công ty. Theo khoản 1 Điều 165 Luật Doanh nghiệp 2020, Người quản lý công ty có trách nhiệm: 

i. Thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao theo quy định pháp luật, Điều lệ công ty, Nghị quyết ĐHĐCĐ; 

ii. Thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp tối đa của công ty;

iii. Trung thành với lợi ích của công ty và cổ đông, không lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh, tài sản khác của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;

iv. Kê khai một cách kịp thời, đầy đủ, chính xác các lợi ích liên quan của mình và không xung đột với lợi ích của công ty.

Theo nguyên tắc phân cấp thẩm quyền, thẩm quyền càng cao, trách nhiệm càng lớn và đương nhiên phải chịu trách nhiệm nếu có hành vi vi phạm. Tuy nhiên, theo quy định Luật Doanh nghiệp 2020, Người quản lý công ty có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý, những rủi ro ngay cả khi thực hiện đúng thẩm quyền và không có hành vi vi phạm.

Rủi ro bị loại bỏ bất cứ lúc nào

Theo quy định tại Điều 160 Luật Doanh nghiệp 2020, ĐHĐCĐ có quyền miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT trong các trường hợp khác được quy định tại Điều lệ công ty hoặc khi xét thấy cần thiết. Điều lệ công ty được xem như “lệ làng” của chủ sở hữu, được xây dựng bởi và vì lợi ích của ĐHĐCĐ. Bên cạnh đó, việc “khi xét thấy cần thiết” mang tính chất chủ quan, điều này cho thấy rằng, Luật Doanh Nghiệp 2020 trao toàn quyền quyết định việc bãi nhiệm, miễn nhiệm thành viên HĐQT bất cứ lúc nào, ngay cả khi họ đang làm tốt công việc và không xảy ra bất cứ sai phạm nào. Khi HĐQT có sự thay đổi sẽ dẫn đến sự thay đổi dây chuyền trong cơ cấu quản lý công ty, bởi các vị trí quản lý khác như giám đốc, tổng giám đốc, kế toán trưởng,… do HĐQT lựa chọn và quyết định.

Trách nhiệm giải trình và rủi ro bị tước quyền lợi

Thuộc phạm vi trách nhiệm công khai các lợi ích liên quan, khoản 2 và khoản 5 Điều 164 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định, thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc nhân danh cá nhân hoặc nhân danh người khác để thực hiện công việc dưới mọi hình thức trong phạm vi công việc kinh doanh của công ty đều phải giải trình bản chất, nội dung của công việc đó trước HĐQT, Ban kiểm soát và chỉ được thực hiện khi được đa số thành viên của Hội đồng quản trị chấp thuận; nếu thực hiện mà không khai báo, hoặc không được sự chấp thuận của HĐQT thì tất cả thu nhập có được từ hoạt động đó thuộc về công ty. 

Chịu trách nhiệm bồi thường và trách nhiệm liên đới

Theo điều 162 Luật Doanh nghiệp 2020, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty trái với quy định của pháp luật, Điều lệ công ty, hợp đồng lao động ký với công ty và nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị, mà gây thiệt hại cho công ty phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và phải bồi thường thiệt hại cho công ty.

Khoản 2 Điều 165 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định, Người quản lý công ty vi phạm quy định về trách nhiệm của người quản lý sẽ phải chịu trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới đền bù lợi ích bị mất, trả lại lợi ích đã nhận và bồi thường thiệt hại cho công ty và bên thứ ba. Hiện tại, quy định này không có hướng dẫn thêm về việc phân định trách nhiệm của từng người quản lý. Do đó, nếu Điều lệ công ty không thực hiện việc phân định rõ ràng phạm vi quyền hạn, chi tiết trách nhiệm của từng cá nhân, thì khả năng cao các thành viên HĐQT sẽ phải chịu trách nhiệm liên đới khi có một thành viên vi phạm và gây thiệt hại cho công ty hoặc bên thứ ba.

Các hợp đồng, giao dịch giữa công ty và người có liên quan, phải được thực hiện tuân thủ đúng trình tự thông báo và được chấp thuận của ĐHĐCĐ, HĐQT theo quy định tại Điều 167 Luật Doanh nghiệp 2020 và Điều lệ công ty (nếu có) trước khi ký kết. Trong Luật Doanh nghiệp 2014, yếu tố “gây thiệt hại cho công ty” được chú trọng khi truy cứu trách nhiệm của những người liên quan nếu hợp đồng, giao dịch liên quan không được thực hiện theo quy định. Với quy định tại Luật Doanh nghiệp 2020 đã loại bỏ yếu tố “gây thiệt hại cho công ty”. Do đó, bất cứ hợp đồng, giao dịch nào được ký kết hoặc thực hiện không đúng quy định, mặc dù không gây thiệt hại, không vụ lợi hay thậm chí có đem lại lợi ích cho công ty thì hợp đồng, giao dịch vẫn sẽ bị vô hiệu theo quyết định của Toà án và người ký kết hợp đồng, giao dịch, cổ đông, thành viên Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc có liên quan vẫn phải liên đới bồi thường thiệt hại phát sinh, hoàn trả cho công ty khoản lợi thu được từ việc thực hiện hợp đồng, giao dịch đó (nếu có).