Những Đổi Mới Trong Luật Đầu Tư 2014

BÀI VIẾT

Những Đổi Mới Trong Luật Đầu Tư 2014

Luật Đầu tư (LĐT) và Luật Doanh nghiệp (LDN) mới đã được Quốc hội Việt Nam thông qua vào ngày 26/11/2014.

Cả hai đạo luật sẽ có hiệu lực vào ngày 01 tháng 7 năm 2015. Theo đó, các Nghị định hoặc Thông tư thi hành đạo luật cũng sẽ có hiệu lực  vào thời điểm trên.

Những đạo luật này nhằm mục đích làm giảm sự quan liêu trong hệ thống hành chính và huy động thêm vốn trong và ngoài nước nhiều hơn vào sản xuất. Lần đầu tiên, các đạo luật đưa ra một hướng tiếp cận ủng hộ nhà đầu tư, điều này hy vọng sẽ tạo ra được một làn sóng đầu tư nước ngoài mới vào Việt Nam. Bài bình luận đặc biệt này sẽ nêu bật những thay đổi quan trọng nhất trong hai đạo luật, cũng như những rủi ro có thể cản trở đầu tư, theo thứ tự mức độ quan trọng giảm dần.

1. Khái niệm về nhà đầu tư nước ngoài được xác định lại – Thử nghiệm 51%

Trước đây, một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FIE) có tỷ lệ sở hữu nước ngoài dưới 51% sẽ được coi là một công ty nước ngoài mặc dù FIE được thành lập tại Việt Nam. Theo LĐT mới, các doanh nghiệp nước ngoài chỉ bao gồm những doanh nghiệp được thành lập ở nước ngoài (nhà đầu tư nước ngoài, cấp F0) hoặc nếu người nước ngoài sở hữu 51% trở lên của một công ty thành lập trong nước (cấp F1). Điều 23 của LĐT giả định rằng FIE được coi là “doanh nghiệp nước ngoài” chỉ khi nhà đầu tư nước ngoài sở hữu trực tiếp và/hoặc gián tiếp thông qua FIE [được sở hữu trực tiếp bởi nhà đầu tư nước ngoài lên tới 51% (cấp F1)] ít nhất 51% vốn cổ phần (Cấp F2). Xin vui lòng xem thêm sự hạn chế của cổ phần chéo trong Phần 15 dưới đây. Như vậy, một nhà đầu tư nước ngoài hoặc FIE có thể thành lập một chi nhánh trong nước nếu nắm giữ ít hơn 51% vốn chủ sở hữu.

Đây là một nguyên tắc quan trọng bởi vì nếu một FIE được đối xử như một nhà đầu tư trong nước thì nhà đầu tư này sẽ được hưởng những ưu đãi nhà nước giống như một nhà đầu tư trong nước được hưởng. Đáng kể, định nghĩa này cũng mở ra khả năng các nhà đầu tư nước ngoài chỉ cần có được Giấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT) một lần để thành lập FIE, và sau đó sử dụng FIE làm công ty mẹ cho nhiều công ty trong nước, giả định rằng mỗi công ty trong nước kể trên có sở hữu nước ngoài dưới 51% (nhưng nhà đầu tư nước ngoài nắm quyền biểu quyết đa số, xem thêm phần 3 bên dưới). Cơ cấu này cho phép các tập đoàn liên doanh vận hành nhiều công ty trong nước khác nhau trong các ngành công nghiệp đa dạng, bao gồm cả những công ty trước đây dành cho các nhà đầu tư Việt Nam địa phương.

Khả năng thành lập một công ty mà không có một dự án cụ thể yêu cầu có GCNĐT sẽ làm phổ biến khái niệm về công ty chủ sở hữu, vốn chưa được nhìn nhận một cách rộng rãi tại Việt Nam. Hơn nữa, theo chế độ pháp lý mới này, những công ty đặc thù (SPV) có thể được thành lập để thu được tài sản hoặc dự án tại Việt Nam mà không phải liên doanh hoặc mua cổ phần trong một công ty địa phương, do đó giảm đáng kể chi phí giao dịch.

Những thay đổi quan trọng này dự kiến ​​sẽ tạo ra một làn sóng đầu tư nước ngoài mới vào Việt Nam, với điều kiện Chính phủ có thể hạn chế sự quan liêu và những trở ngại trong “các dự án có điều kiện”.

2. Bãi bỏ Giấy chứng nhận đầu tư cho giao dịch M&A

Theo Điều 26 LĐT khi nhà đầu tư nước ngoài hoặc FIE (có ít nhất 51% sở hữu nước ngoài) thực hiện giao dịch M&A vào các dự án đầu tư có điều kiện hoặc, theo hệ quả nắm giữ hơn 51% vốn của chỉ tiêu, thì hoạt động M&A đó phải được đăng ký với sở kế hoạch và đầu tư (DPI) địa phương nơi đặt mục tiêu (được gọi là yêu cầu Đăng ký). Nếu thiếu những điều kiện này, hoạt động M&A chỉ có thể được tiến hành theo LDN, do đó tránh được yêu cầu phải có GCNĐT để kết thúc thỏa thuận M&A, đây là điều kiện rắc rối nhất theo luật cũ.

Ngay cả khi việc đăng ký là bắt buộc, quy trình đăng ký sẽ trở nên đơn giản và dễ hiểu hơn, và phải được xem xét trong vòng 15 ngày kể từ ngày nộp. Sự thay đổi này, cùng với việc xác định lại nhà đầu tư nước ngoài trong phần (1) ở trên, dự kiến sẽ tăng đáng kể trong đầu tư M&A.

3. Giảm 65% số phiếu biểu quyết đa số xuống còn 51% và 75% số phiếu biểu quyết đa số xuống còn 65%

Không giống như các quốc gia khác, khái niệm về “biểu quyết đa số” theo LDN Việt Nam hiện hành yêu cầu 65% quyền biểu quyết, chứ không phải 51%. LDN đưa các công ty cổ phần (CTCP) Việt Nam trở nên phù hợp hơn với xu hướng thế giới (trong đó bỏ phiếu đa số có nghĩa là 51% và bỏ phiếu đại đa số có nghĩa là 65%). Cũng xin lưu ý rằng một cổ đông nắm giữ ít hơn 51% vốn điều lệ có thể nắm giữ nhiều hơn 51% quyền biểu quyết nếu anh ấy/cô ấy có cổ phần với quyền biểu quyết ưu đãi. Đối với các công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), quy tắc đa số mặc định vẫn là 65%, “trừ khi Điều lệ có quy định khác”. Điều đó có nghĩa là một cuộc bỏ phiếu đa số đơn giản trong một công ty TNHH có thể thấp tới 50,01% nếu điều lệ quy định như vậy.

Số đại biểu yêu cầu để tổ chức một cuộc họp hội đồng quản trị cho các công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần sẽ được giảm từ 75% xuống còn 65%. Mặc dù thay đổi này có thể không ảnh hưởng đến các công ty đang hiện diện với điều lệ hiện hành của họ tùy thuộc vào cách điều lệ đó được soạn thảo, nhưng nó mở ra cơ hội đàm phán lại điều lệ vì lợi ích của một số cổ đông, cũng như cho phép nhiều nhà đầu tư mua cổ phần trong một công ty. Nhà đầu tư nước ngoài sẽ không còn bị bỡ ngỡ khi tiếp xúc với pháp luật Việt Nam.

4. Phát hành GCNĐT theo dõi nhanh cho các Dự án Dịch vụ; và Phê duyệt Nguyên tắc cho các Dự án lớn

Quy trình để có một GCNĐT sẽ được đơn giản hóa cho các dự án dịch vụ, kết quả quyết định có trong vòng năm ngày kể từ ngày nộp. Tuy nhiên, các dự án liên quan đến vận tải biển, viễn thông, ấn phẩm hoặc báo chí yêu cầu phải có sự chấp thuận của Thủ tướng. Tương tự, các dự án trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng và bảo hiểm sẽ cần có sự phê duyệt về nguyên tắc của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước hoặc Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Nếu được thực hiện đúng cách, nhiều nhà đầu tư nước ngoài sẽ không còn phải chuẩn bị các nghiên cứu khả thi và chờ đợi ý kiến ​​của nhiều bộ trước khi họ có thể bắt đầu hoạt động tại Việt Nam, từ đó loại bỏ một trong những rào cản nặng nề nhất trong quá trình đầu tư.

Hầu hết các dự án sử dụng đất (trừ xây dựng nhà máy trong khu công nghiệp) hoặc dự án công nghệ cao bao gồm hai bước: có được sự chấp thuận về nguyên tắc và đăng ký GCNĐT. Trong bước đầu tiên, các nhà đầu tư phải cung cấp một nghiên cứu về sự khả thi của dự án, được đánh giá bởi nhiều cơ quan khác nhau, với thời gian đánh giá lên tới 45 ngày hoặc hơn. Các dự án lớn có thể cần phải được Quốc hội phê chuẩn.

5. Yêu cầu cả Giấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT) và Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (GCNĐKDN)

Một GCNĐT chỉ được yêu cầu đối với các khoản đầu tư trưc tiếp bởi các nhà đầu tư nước ngoài hoặc được xem là nhà đầu tư nước ngoài (tức là, FIE với ít nhất 51% vốn sở hữu nước ngoài).

Sau khi có được GCNĐT, FIE phải được thành lập bằng việc lấy GCNĐKDN. Điều này có vẻ mang nặng tính chất công việc giấy tờ, nhưng trên thực tế là một sự phát triển tích cực, bởi vì nó cân bằng sân chơi giữa các nhà đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước, và nhiều thay đổi trong đầu tư nước ngoài có thể không cần phải sửa đổi GCNĐT mà chỉ là GCNĐKDN. Có GCNĐT cũng là một lợi thế của các nhà đầu tư nước ngoài, bởi vì nó nêu rõ các quyền của các nhà đầu tư và ưu đãi đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài. Việc đăng ký GCNĐKDN và NIGERD (xem mục 7 bên dưới) có sẵn cho các nhà đầu tư nước ngoài, cũng cho phép cộng đồng doanh nghiệp theo dõi dữ liệu của công ty một cách dễ dàng và tăng cường tính minh bạch cũng như ngăn chặn gian lận.

6. Nới lỏng các yêu cầu về Học thuyết “Ultar Vires” và Mã HS

Trong khi LĐT làm giảm sự quan liêu trong quy trình đăng ký GCNĐT, LDN làm giảm thiểu sự trì hoãn trong quy trình phát hành GCNĐKDN. Các ngành nghề kinh doanh không còn được ghi lại trong GCNĐKDN. Khi làm như vậy, một doanh nghiệp có thể có nhiều hoạt động kinh doanh như mức mong muốn miễn là họ không bị cấm hoặc bị hạn chế bởi pháp luật. Các công ty thương mại và phân phối sẽ không cần cung cấp hàng ngàn Mã HS cho các sản phẩm giao dịch (và cho các sản phẩm sẽ đưa ra trong tương lai). Điều này ngăn chặn trước những khiếu nại phổ biến trước đây rằng các cơ quan cấp phép thường xuyên đặt ra các câu hỏi không liên quan làm trì hoãn quá trình hợp nhất do các yêu cầu của Mã HS.

Sự nới lỏng của hệ thống Mã HS và danh sách các hoạt động kinh doanh trong quá trình phát hành GCNĐKKD có thể dẫn đến việc nới lỏng học thuyết vượt quá quyền lực – nghĩa là, một doanh nghiệp chỉ có thể tiến hành kinh doanh nếu các lĩnh vực được liệt kê trong GCNĐKKD của doanh nghiệp. Điều này, một lần nữa, sẽ cung cấp sự chắc chắn hơn và giảm bớt e ngại về năng lực pháp lý của các công ty giao thương với nhau.

7.  Một số rủi ro của việc Đăng ký và Thông báo doanh nghiệp

Ứng dụng đăng ký GCNĐKDN hiện nay chỉ mất 03 ngày kể từ ngày nộp hồ sơ, thay vì 05 ngày làm việc như trước đây.

Mặc dù về mặt kỹ thuật, doanh nghiệp hiện được phép tham gia vào tất cả các hoạt động mà pháp luật không cấm, LDN vẫn yêu cầu công ty thông báo trực tuyến các hoạt động kinh doanh của mình, kết quả dẫn đến là phải không có hoạt động nằm trong danh sách các lĩnh vực có điều kiện. Thông tin này sẽ được thu thập và cung cấp trực tuyến bởi Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia (NIGERD). Nói cách khác, trong khi LDN mới thường được hiểu là cho phép doanh nghiệp, không cần đăng ký, hoạt động trong tất cả các lĩnh vực không bị cấm và không có điều kiện, đăng ký trực tuyến NIGERD duy trì tính minh bạch và môi trường hiểu biết đối tác trong cộng đồng kinh doanh. Nếu doanh nghiệp muốn thay đổi phạm vi kinh doanh, sẽ cần thông báo những thay đổi đó cho cơ quan đăng ký kinh doanh. Thông báo như vậy có thể bị cơ quan đăng ký kinh doanh ERC phản đối trong vòng 3 ngày nếu thay đổi trái với quy định của pháp luật.

Thật đáng tiếc rằng trong khi quy trình đăng ký GCNĐKDN đơn giản và danh sách các tài liệu phải nộp cụ thể rõ ràng, thì đăng ký GCNĐKDN có thể yêu cầu người nộp phải nộp kèm lý lịch tư pháp của họ nếu cần thiết. Điều này có thể cản trở mục tiêu thành lập công ty trong vòng 03 ngày. Nghị định thi hành có thể cần phải giải quyết vấn đề này để kiềm chế vấn nạn quan liêu.

8. Hoạt động phái sinh – Tăng cường cho các cổ đông thiểu số và cổ phần tư nhân

Mặc dù LDN trước đây đưa ra khái niệm về nghĩa vụ ủy thác, nhưng lại không cung cấp một cơ chế thực thi để bảo vệ các cổ đông thiểu số nếu nghĩa vụ ủy thác bị vi phạm. Lần đầu tiên, LĐT mới đưa ra khái niệm hoạt động phái sinh, cho phép các cổ đông nắm giữ ít nhất 1% tổng số cổ phần thực hiện các hoạt động phái sinh chống lại các thành viên hội đồng quản trị, giám đốc và kiểm soát viên vì vi phạm nghĩa vụ của họ đặt lợi ích bản thân lên trên lợi ích công ty và nghĩa vụ không lạm quyền. Chi phí cho các hành động phái sinh sẽ do công ty chịu. Đây có thể được coi là tin tốt cho các quỹ đầu tư tư nhân hoặc các nhà đầu tư thiểu số hiện đang quan ngại tham gia các chương trình cổ phần hóa của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) bởi vì các cổ đông lớn thường là Chính phủ hoặc người có liên quan của các nhà quản lý đương nhiệm DNNN.

Tuy nhiên, cải cách trong LDN phải đi đôi với cải cách Bộ luật Tố tụng dân sự để cho phép các hành động phái sinh được công nhận hoàn toàn trong tố tụng của tòa án, trừ khi điều lệ cho phép các hành động đó được đưa ra phân xử.

9. Trái phiếu doanh nghiệp – Một sự tăng cường chứng khoán hóa

LDN hiện nay công nhận quyền của các công ty phát hành trái phiếu. Không giống như các luật pháp trước đây yêu cầu nhà phát hành trái phiếu phải có “lợi nhuận”, điều này có thể không khả thi đối với những công ty đặc thù, LDN mới chỉ yêu cầu nhà phát hành trái phiếu phải có khả năng thanh toán, tức là có thể thanh toán các khoản nợ khi đến hạn. Việc bãi bỏ quy định này có thể tạo ra cơ hội chứng khoán hóa nhiều hơn và thúc đẩy thị trường trái phiếu dự án, cuối cùng giúp phát triển một thị trường vốn sôi động tại Việt Nam.

10. Nhiều hơn một đại diện theo pháp luật trong một công ty

Các nhà đầu tư nước ngoài đôi khi bày tỏ mối quan ngại về khái niệm một “đại diện theo pháp luật” cho một công ty tại Việt Nam, vì đây là người duy nhất có thể ràng buộc các hành vi của công ty. Thông thường, việc sa thải người đại diện theo pháp luật trở thành tranh chấp lâu dài giữa nhiều cổ đông hoặc bên thứ ba, điều ngạc nhiên khi giám đốc ký hợp đồng thực tế không phải là người đại diện theo pháp luật. LDN hiện đang hướng đến một công ty có thể có nhiều hơn một đại diện theo pháp luật và nhiều hơn một con dấu, nhằm xóa bỏ mâu thuẫn của các cổ đông trong các doanh nghiệp trong nước về việc loại bỏ một đại diện theo pháp luật và đưa LDN trở nên phù hợp hơn với thế giới.

Tuy nhiên, điều đáng chú ý là LDN không đề cập rõ ràng liệu phạm vi thẩm quyền của mỗi đại diện pháp luật sẽ bằng nhau hay phụ thuộc vào vị trí nắm giữ trong doanh nghiệp. Nói cách khác, phạm vi thẩm quyền của mỗi đại diện theo pháp luật cần được xác định rõ ràng trong điều lệ của doanh nghiệp.

11. Vốn điều lệ đã huy động được (Vốn góp chủ sở hữu)

Trước đây, các cơ quan chức năng của Việt Nam thường đo lường năng lực của một công ty bằng “vốn điều lệ”. Lợi dụng thực tiễn này, nhiều công ty đã được thành lập với vốn điều lệ cao nhưngthực tế chưa được chi trả. Để khắc phục vấn đề này, LDN hiện quy định vốn điều lệ phải là vốn đã huy động được trên thực tế, phải được góp đủ trong vòng 90 ngày kể từ ngày thành lập công ty. Ngoài vốn đã huy động, có thể có vốn ủy quyền, nhưng loại vốn này sẽ không được coi là vốn điều lệ.

Bất kỳ việc phát hành cổ phiếu nào vượt quá số vốn ủy quyền phải tuân thủ quy trình chào bán công khai (đăng ký tại Ủy ban Chứng khoán Nhà nước) hoặc phát hành riêng lẻ (thông báo cho cơ quan đăng ký kinh doanh).

Đối với vốn điều lệ là vốn đã huy động được, nếu một công ty cổ phần quyết định mua lại cổ phần của mình, LDN yêu cầu công ty giảm vốn điều lệ xuống thành tổng mệnh giá của cổ phiếu đã góp trong vòng năm ngày kể từ ngày hoàn tất việc mua lại. Theo đó, định nghĩa về cổ phiếu quỹ không được công nhận. Điều này ngăn cản một công ty đầu tư vào cổ phiếu của chính mình trong khi công ty tự định giá giá cổ phiếu của chính công ty.

12. Doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung của con dấu/tem doanh nghiệp

Từ ngày 1 tháng 7, Doanh nghiệp được phép tự do quyết định hình thức, nội dung và số lượng con dấu doanh nghiệp sẽ được sử dụng, với điều kiện phải tên và số đăng ký của doanh nghiệp phải được thể hiện. Các doanh nghiệp phải thông báo tương tự với Cổng thông tin quốc gia về Đăng ký doanh nghiệp (“NPER”).

Tương tự,không phải tất cả các CTCP đều được yêu cầu thành lập ban kiểm soát. LĐT mới miễn nghĩa vụ này đối với các công ty tư nhân (dưới 11 cổ đông và không có cổ đông công ty nào sở hữu ít nhất 50% tổng số cổ phần). Quy tắc này không áp dụng cho công ty TNHH một thành viên. Chủ sở hữu công ty không chỉ phải chỉ định ít nhất một người kiểm soát, mà người kiểm soát này phải không được là nhân viên của công ty hay người có liên quan với chủ sở hữu, và phải có bằng cấp về luật, kiểm toán hoặc kế toán. Yêu cầu này ngăn cản chủ sở hữu của một công ty TNHH một thành viên sử dụng danh tính của công ty để tạo lợi thế cho mình.

13. Kiểm soát nhiều hơn đối với doanh nghiệp nhà nước (DNNN)

LDN trước đây yêu cầu tất cả các DNNN phải được chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên, nhưng lại thiếu cơ chế để kiềm chế xung đột lợi ích chính của người đại diện. Để giải quyết vấn đề này, LDN mới yêu cầu DNNN tiết lộ thêm thông tin, tổ chức cuộc họp Hội đồng thành viên (BOM) thường xuyên hơn, trao thêm quyền lực cho ban kiểm soát DNNN.

LDN mới yêu cầu DNNN thực hiện quyết định của ban kiểm soát của doanh nghiệp. Nghị quyết của BOM của DNNN có thể cũng cần phải được ban kiểm soát chấp thuận nếu điều lệ có yêu cầu. Chủ tịch hoặc Giám đốc điều hành sẽ bị miễn nhiệm nếu anh ấy/cô ta không đáp ứng mục tiêu kinh doanh trong kế hoạch kinh doanh mà không có lý do chính đáng. Hai nhiệm vụ này chưa chắn chắn bằng cách nào có thể được hoàn thành cùng lúc.

14. Doanh nghiệp xã hội

LDN giới thiệu một khái niệm mới được gọi là doanh nghiệp xã hội. Doanh nghiệp này được thành lập để giải quyết các vấn đề xã hội hoặc môi trường vì lợi ích cộng đồng và phải sử dụng ít nhất 51% lợi nhuận để tái đầu tư cho các mục tiêu trên. Không giống như các doanh nghiệp khác, doanh nghiệp xã hội có thể nhận được các quỹ từ thiện hoặc hỗ trợ từ các tổ chức phi chính phủ hoặc các doanh nghiệp khác. Những hỗ trợ như vậy được kỳ vọng sẽ là chi phí để khấu trừ thuế cho các nhà tài trợ và cũng cho phép các công ty thành lập doanh nghiệp xã hội của riêng họ để thực hiện các trách nhiệm xã hội của công ty.

15. Hạn chế sở hữu chéo

LDN không cho phép công ty con nắm giữ cổ phần trong công ty mẹ hoặc sở hữu cổ phần chéo giữa hai công ty con của cùng một công ty mẹ. Mặc dù quy định này vẫn đang chờ được giải thích trong Nghị định của LDN, nhưng điều này có thể ảnh hưởng đến cơ cấu nắm giữ cổ phần trở nênquan ngại. Không rõ liệu một công ty F1 nắm giữ cổ phần trong một công ty F2 (nhưng không theo chiều ngược lại) sẽ rơi vào sự cấm đoán này hay không nếu cả F1 và F2 đều là thành viên của một nhóm F0 (xem biểu đồ trong phần 1 ở trên).

16. Rào cản cho những thay đổi – “Dự án có điều kiện”

Việc đơn giản hóa quy trình GCNĐT không mang lại lợi ích cho tất cả các nhà đầu tư nước ngoài. Những nhà đầu tư nước ngoài quan tâm đến 267 dự án được gọi là những dự án “có điều kiện”, tiếp tục đối mặt những trở ngại. Các dự án “có điều kiện” này vẫn phải chịu sự hạn chế như các dự án tổ chức tín dụng, dự án in ấn, dự án khai thác hoặc các dự án giáo dục và chăm sóc sức khỏe. Các dự án có điều kiện này thường bao gồm các dịch vụ được đề cập theo lộ trình của WTO. Một ủy ban soạn thảo đã xác nhận rằng các “điều kiện liên quan đến WTO” như vậy sẽ chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp nước ngoài chứ không phải các doanh nghiệp trong nước. Đối với bán lẻ và phân phối, sự hạn chế được mở rộng đối với “các hoạt động mua bán và hoạt động liên quan”. Các “dự án có điều kiện” không rõ sẽ được kiểm soát như thế nào, và làm sao kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT) sẽ phù hợp với LĐT mới.

Bước tiếp theo là để các hiệp hội doanh nghiệp và các công ty luật vận động các ủy ban soạn thảo làm rõ trong Nghị định thi hành LĐT (vào ngày 1 tháng 7 năm 2015) quy định những tài liệu nào bắt buộc trong quy trình nộp đơn và cấm những tài liệu không được xác định rõ ràng trong các quy định triển khai thực hiện.

Đối với việc giao dịch và phân phối, tất cả các hạn chế và điều kiện nên được loại bỏ. Để phát triển cơ sở sản xuất, các nhà đầu tư nước ngoài nên được phép thử nghiệm thị trường và phân phối hàng hóa và dịch vụ của họ một cách tự do. Việc hạn chế ngoại thương và phân phối không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (sẽ được thực hiện trong năm 2015), mà còn gây hại cho các nhà phân phối trong nước về lâu dài. Một nhà phân phối trong nước tốt sẽ luôn tìm cách mở rộng và  vốn, sự đa dạng hàng hóa và cả hợp tác quốc tế.

Một vấn đề bất cập khác là mặc dù đạo luật quy định 45 ngày để các cơ quan chức năng xem xét đơn đăng ký và cấp GCNĐT, nhưng thời hạn này thường không được các cơ quan chức năng tôn trọng và không bị xử phạt.

17. Hỗ trợ từ cộng đồng doanh nghiệp

Việc cải cách LĐT và LDN sẽ tạo ra một sự tác động lớn trong cộng đồng doanh nghiệp và pháp lý Việt Nam. Luật sửa đổi sẽ tạo điều kiện cho việc thành lập các doanh nghiệp mới, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài, và giảm đi chi phí khi các nhà đầu tư rút khỏi thị trường Việt Nam.
Ngoài ra, nó sẽ đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư, cổ đông và các bên liên quan khác.