7611-1-1024x512Theo quy định tại Điều 35 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định thì cá nhân, tổ chức có thể góp vốn bằng các tài sản sau: Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam.

Như vậy, có thể thấy pháp luật cho phép các hình thức góp vốn có thể bằng tiền mặt hoặc tài sản mà được định giá bằng đồng Việt Nam.

Đa số các doanh nghiệp nhỏ hiện nay, các thành viên góp vốn thường góp vốn bằng tiền mặt để thuận tiện trong việc góp vốn và thủ tục hành chính. Các thành viên góp vốn có thể góp trực tiếp bằng tiền mặt, với hình thức này, cơ quan nhà nước khó kiểm soát về nghĩa vụ góp đủ vốn trong vòng 90 ngày kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Đối với thủ tục hành chính, việc góp vốn bằng tiền mặt, các thành viên góp vốn cũng không cần thực hiện thủ tục đăng ký hay chuyển giao quyền sở hữu cho doanh nghiệp nhận vốn góp.

Đối lập với hình thức góp vốn bằng tiền mặt, hình thức góp vốn bằng tài sản có vẻ như ít được lựa chọn bởi các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bởi lẽ, các thành viên góp vốn phải thực hiên chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn theo quy định tại Điều 36 Luật doanh nghiệp 2014 như sau:

a) Đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn không phải chịu lệ phí trước bạ;

b) Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản.

Biên bản giao nhận phải ghi rõ tên và địa chỉ trụ sở chính của công ty; họ, tên, địa chỉ thường trú, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác, số quyết định thành lập hoặc đăng ký của người góp vốn; loại tài sản và số đơn vị tài sản góp vốn; tổng giá trị tài sản góp vốn và tỷ lệ của tổng giá trị tài sản đó trong vốn điều lệ của công ty; ngày giao nhận; chữ ký của người góp vốn hoặc đại diện theo ủy quyền của người góp vốn và người đại diện theo pháp luật của công ty;

c) Cổ phần hoặc phần vốn góp bằng tài sản không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng chỉ được coi là thanh toán xong khi quyền sở hữuhợp phápđối với tài sản góp vốn đã chuyển sang công ty.”

Như vậy, trong vòng 90 ngày kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, các thành viên cam kết góp vốn bằng các tài sản trên phải thực hiện việc chuyển giao quyền sở hữu. Điều này, khiến các thành viên góp vốn phải thực hiện các bước thủ tục hành chính để có thể hoàn tất việc góp vốn, tốn thời gian trong việc định giá tài sản, thực hiện đăng ký chuyển quyền sở hữu. Ngoài ra, việc sử dụng tài sản như bất động sản làm tài sản để góp vốn, Các thành viên đã cam kết góp vốn thì phải thực hiện góp vốn đúng loại tài sản như  đã cam kết. Trong trường hợp, tại thời điểm cam kết, bất động sản được sử dụng góp vốn có giá trị tương đối thấp, nhưng sau biến động thị trường, giá trị tài sản cam kết góp vốn tăng lên, thành viên góp vốn muốn thay đổi tài sản góp vốn bằng 01 tài sản khác hoặc bằng tiền mặt. Vấn đề này có thể gây mâu thuẫn giữa thành viên với công ty. Theo quy định tại khoản 2 Điều 48 Luật doanh nghiệp 2014 quy định thì các thành viên góp vốn nếu muốn thay đổi tài sản cam kết góp vốn thì trong vòng 90 ngày kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được các thành viên còn lai đồng ý cho việc thay đổi tài sản góp vốn, thành viên đó mới được thay đổi bất động sản đã cam kết bằng 01 số tiền hoặc tài sản khác tương đương với giá trị bất động sản đã định giá.Tuy nhiên, việc được các thành viên chấp thuận thay đổi bằng tài sản khác chỉ được thực hiện trong vòng 90 ngày kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và thành viên cam kết góp vốn chưa hoàn tất viêc chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu.

Để các thành viên có thể bảo đảm tài sản của mình nhưng vẫn thực hiện việc góp vốn, các thành viên có thể cam kết góp vốn bằng tiền mặt và sử dụng tài sản có giá trị tương đương để đảm bảo cho việc thực hiện góp vốn. Như vậy, khi thực hiện góp vốn, cá nhân  chưa có đủ tài chính và không đủ tiền mặt để tham gia góp vốn, cá nhân đó có thể đảm bảo việc thực hiện góp vốn bằng chính tài sản của mình nếu được các thành viên góp vốn khác chấp thuận và quy định trong điều lệ công ty.

Đối với tài sản góp vốn, Luật doanh nghiệp 2014 đã mở rộng các đối tượng được sử dụng góp vốn, các thành viên cũng có thể thuận lợi chọn lựa phương thức góp vốn phù hợp với khả năng của mỗi người.