Hiện nay, pháp luật thừa nhận và cho phép cá nhân, tổ chức đươc phép kinh doanh dich vụ đòi nợ nhưng phải đáp ứng các yêu cầu theo quy định tại Nghị định 104/2007/NĐ-CP quy định về kinh doanh dich vụ đòi nợ sau:

  • Doanh nghiệp phải được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với dịch vụ đòi nợ và không được kinh doanh các ngành, nghề và dịch vụ khác ngoài dịch vụ đòi nợ.
  • Các khoản nợ doanh nghiệp thực hiện xử lý phải là các khoản nợ đã quá han thanh toán và có đủ căn cứ là khoản nợ hơp pháp. Tuy nhiên, các khoản nợ đó phải không thuộc các khoản nợ đang thực hiện theo bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật; các khoản nợ của chủ nợ hoặc khách nợ là tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc nợ giữa Việt Nam với các tổ chức quốc tế hoặc quốc gia khác.
  • Doanh nghiệp đăng ký kinh doanh dịch vụ đòi nợ được pháp luật quy định về mức vốn pháp định mà doanh nghiệp phải đăng ký là 2 tỷ đồng, trong quá trình hoạt động doanh nghiệp phải duy trì đươc mức vốn điều lê không thấp hơn mức vốn pháp định mà pháo luật đã quy định.
  • Hoạt động dịch vụ đòi nợ thực hiện theo hợp đồng ủy quyền được ký kết giữa chủ nợ hoặc khách nợ với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ trong phạm vi quyền được pháp luật công nhận

Thực tiễn, nhiều cá nhân, tổ chức chưa thực hiện đăng ký kinh doanh dịch vụ đòi nợ, nhưng đã tự mình thực hiện và hoạt động mà không được cơ quan nhà nước cấp phép, có những hành vi sai phạm, có thái độ côn đồ, hành vi đe dọa, xâm hại và gây ảnh hưởng đến danh dự nhân phẩm, sức khỏe của người bị đòi nợ. Cơ quan nhà nước không thể kiểm soát và quản lý chặt chẽ những đối tượng này. Do đó với việc ban hành quy định đối với các tổ chức thực hiện dịch vụ thu hồi nợ là một biện pháp để quản lý và kiểm soát những hành vi trái với quy định của pháp luật, từ đó có những biện pháp xử lý vi phạm hành chính khi phát hiện những hành vi.

Các bên thực hiện dịch vụ đòi nợ được quyền thỏa thuận mức phí dịch vụ và phải được quy định cụ thể trong hợp đồng được ký kết giữa các bên.

Doanh nghiệp đòi nợ cũng phải thực hiện chế độ báo cáo, nộp thuế, chế độ kế toán tương tự như các doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề khác. Ngoài những quy định về việc báo cáo theo đúng quy định về pháp luật doanh nghiệp, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ thực hiện báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính các loại báo cáo sau theo định kỳ hàng quý, năm được quy định tại thông tư 110/2007/TT-BTC HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN MỘT SỐ NỘI DUNG NGHỊ ĐỊNH SỐ 104/2007/NĐ-CP NGÀY 14 THÁNG 6 NĂM 2007 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ ĐÒI NỢ:

  • Tình hình kinh doanh dịch vụ đòi nợ trong kỳ trong đó nêu rõ số lượng hợp đồng đòi nợ đã ký với khách hàng, số lượng hợp đồng tư vấn cho khách hàng về các vấn đề pháp lý liên quan đến xử lý nợ; tổng số tiền nhận uỷ quyền đòi nợ; số tiền nợ thu được theo uỷ quyền, số lượng hợp đồng kết thúc trong kỳ.
  • Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.

Trong trường hợp cần thiết, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thể yêu cầu doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ gửi các báo cáo tài chính khác để phục vụ cho mục tiêu quản lý.

Thời hạn gửi báo cáo quý chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày kết thúc quý; thời hạn gửi báo cáo năm chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính.”

Như vậy, với những quy định khá chặt chẽ về điều kiện thành lập và các chế độ báo cáo, nghĩa vụ nộp thuế đối với doanh nghiệp thu hồi nợ, Nhà nước dễ dàng trong việc quản lý, kiểm soát và có những biện pháp xử phạt phù hợp đối với những hành vi vi phạm trái pháp luật đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện này.