Để thực hiện hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực Ngân hàng tại Việt Nam thì các nhà đầu tư nước ngoài có thể lựa chọn một trong các phương thức đầu tư sau:

  1. Thành lập ngân hàng có 100% vốn đầu tư nước ngoài:

Chỉ có nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức tín dụng nước ngoài được thành lập hợp lệ theo quy định của pháp luật nước ngoài mới được quyền thành lập một ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam. Ngân hàng 100% vốn nước ngoài phải được thành lập dưới loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn. Trong trường hợp ngân hàng 100% vốn  đầu tư nước ngoài được thành lập dưới loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, chủ sở hữu phải là một ngân hàng nước ngoài. Nếu ngân hàng đó được thành lập dưới loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, thì phải có một chủ sở hữu là một ngân hàng nước ngoài nắm giữ 50% vốn điều lệ của ngân hàng.

  1. Thành lập ngân hàng liên doanh:

Các nhà đầu tư nước ngoài (gồm một hoặc một số ngân hàng nước ngoài) có thể, kết hợp với các nhà đầu tư Việt Nam (gồm một hoặc một số ngân hàng Việt Nam), thành lập ngân hàng liên doanh theo hợp đồng liên doanh. Ngân hàng liên doanh sẽ được thành lập và tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, với điều kiện là số lượng thành viên không vượt quá 05, đồng thời phải đáp ứng yêu cầu là một thành viên và người có liên quan của thành viên đó không được nắm giữ nhiều hơn 50% vốn điều lệ của ngân hàng.

  1. Thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài:

Ngân hàng nước ngoài được phép thành lập chi nhánh tại Việt Nam, chi nhánh này sẽ là đơn vị phụ thuộc của ngân hàng nước ngoài và không có tư cách pháp nhân. Ngân hàng nước ngoài sẽ chịu trách nhiệm đối với tất cả các nghĩa vụ và cam kết của chi nhánh tại Việt Nam.

  1. Mua cổ phần của ngân hàng trong nước:

Các nhà đầu tư nước ngoài, bao gồm các cá nhân và tổ chức nước ngoài, được phép mua cổ phần của các ngân hàng cổ phần Việt Nam với một tỷ lệ cổ phần có giới hạn. Quy định về Tỷ lệ nắm giữ cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài được phép sỡ hữu tại một tổ chức tín dụng Việt Nam, quy định như sau:

  • Tỷ lệ cổ phần của cá nhân đầu tư nước ngoài không được vượt quá 5% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng Việt Nam;
  • Tỷ lệ cổ phần của một tổ chức đầu tư nước ngoài không vượt quá 15% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng Việt Nam hoặc 20% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng Việt Nam trong trường hợp tổ chức đầu tư nước ngoài là một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài;
  • Tổng số cổ phần sở hữu bởi các nh{ đầu tư nước ngoài không được vượt quá 30% vốn điều lệ của một ngân hàng thương mại Việt Tổng số cổ phần sở hữu bởi các nhà đầu tư nước ngoài tại một tổ chức tín dụng phi ngân hàng Việt Nam (ví dụ công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính) không được vượt qu| 49% tổng số cổ phần khi mua lại cổ phần của một tổ chức tín dụng phi ngân  hàng  Việt  Nam  mà  đồng  thời  là một công ty cổ phần đại chúng.
  • Trong trường hợp đặc biệt khi một tổ chức tín dụng suy yếu và đối mặt với khó khăn, để đảm bảo an toàn tín dụng cho hệ thống tổ chức tín dụng, việc tái cơ cấu có thể được yêu cầu. Khi đó, Thủ tướng Việt Nam có quyền quyết định tổng tỷ lệ cổ phần của một tổ chức nước ngoài hoặc một nhà đầu tư chiến lược nước  ngoài theo từng trường hợp cụ thể.
  • Quan trọng hơn, tỷ lệ cổ phần của một nhà đầu tư nước ngoài sẽ được xem xét trên cơ sở kết nối với những người liên Tỷ lệ sở hữu cổ phần của một nhà đầu tư nước ngoài và tỷ lệ sở hữu cổ phần của những người có liên quan với nhà đầu tư nước ngoài đó không được vượt quá 20% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng Việt Nam.

Lưu ý: tỷ lệ cổ phần quy định trên bao gồm số tiền vốn mà nhà đầu tư nước ngoài ủy thác cho các tổ chức, cá nhân khác mua cổ phần.

PHẠM HỒNG MẠNH – APOLAT LEGAL