Theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định thì Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam. Đó cũng chính là vấn đề gây khó khăn đến đa số các cá nhân đang làm việc trong cơ quan nhà nước và không được tham gia hoạt động kinh doanh, thiết lập một công ty cho riêng mình.

Tuy nhiên, những chủ thể muốn là thành viên của một công ty có thể thực hiện bằng cách mua cổ phần của công ty cổ phần khi được cổ đông sáng lập của một công ty cổ phần chuyển nhượng và được Đại hội đồng cổ đông công ty cổ phần đó đồng ý, nếu công ty đó được thành lập trong vòng 03 năm, và nếu công ty cổ phần đã được thành lập quá 03 năm thì việc chuyển nhượng cổ phần không cần hỏi ý kiến của đại hội đồng cổ đông.

Căn cứ theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 119 Luật Doanh nghiệp 2014:

3. Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó.

4. Các hạn chế đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập được bãi bỏ sau thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Các hạn chế của quy định này không áp dụng đối với cổ phần mà cổ đông sáng lập có thêm sau khi đăng ký thành lập doanh nghiệp và cổ phần mà cổ đông sáng lập chuyển nhượng cho người khác không phải là cổ đông sáng lập của công ty.”

Việc tự do chuyển nhượng cổ phần của các cổ đông trong công ty cổ phần là một chìa khóa thuận lợi cho các chủ thể bị hạn chế khi thành lập và quản lý doanh nghiệp được tham gia đầu tư và thu lợi nhuận mà không bị pháp luật nghiệm cấm.