Các nhà đầu tư nước ngoài nên cân nhắc lựa chọn Việt Nam như là một điểm đến cho hoạt động kinh doanh và đầu tư của mìnhvì các lý do sau:

Thứ nhất, Việt Nam có một nền kinh tế ổn định và năng động

Từ năm 1986 và sau khi có chính sách Đổi Mới, nền kinh tế Việt Nam về cơ bản đã được chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường mở cửa theo xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng và phát triển theo cấp số nhân trong lĩnh vực kinh tế. Một trong những thay đổi cơ bản của nền kinh tế là sự bình đẳng về quyền và sở hữu trong nền kinh tế giữa Nhà nước và tư nhân, điều này được dự đoán như là một bước quan trọng để khuyến khích và thúc đẩy hoạt động đầu tư nước ngoài vào thị trường Việt Nam.

Trong những năm vừa qua, Việt Nam là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất ở châu Á. Với GDP vào khoảng 184 tỉ USD trong năm 2014 và mức tăng trưởng vào khoảng 6% một năm, Việt Nam đã leo lên vị trí ngang tầm với những con rồng châu Á khác. Với kim ngạch xuất khẩu đạt gần 150 tỉ USD trong năm 2014, Việt Nam đã duy trì được cho mình cán cân kinh tế tương đối ổn định (so sánh với kim ngạch nhập khẩu là 148 tỉ USD trong cùng năm 2014).  Điều quan trọng hơn là nền kinh tế của Việt Nam không bị ảnh hưởng nhiều bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu trong năm 2008. Hiện tại, Việt Nam đang được xếp hạng tín dụng chung ở mức B bởi nhiều tổ chức xếp hạng hàng đầu trên thế giới như Standard &Poor’s (BB), Moody’s (B1) và Fitch (B+).

Thêm vào đó, việc gia nhập WTO cũng như thiết lập thành công nhiều thỏa thuận song phương và đa phương với các quốc gia khác cũng cho thấy được triển vọng phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Quá trình này đã tạo ra những mối liên kết quan trọng giữa nền kinh tế Việt Nam và kinh tế toàn cầu, mở ra nhiều cơ hội để thu hút nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào thị trường Việt Nam.

Thứ hai, lực lượng lao động trẻ và có sức cạnh tranh cao

Như đã đề cập, Việt Nam có dân số trẻ và có khả năng lao động với khoảng 80% dân số có độ tuổi từ 15 trở lên, là thành phần trong tương lai gần sẽ trở thành lực lượng lao động chủ lực của Việt Nam – có số lượng ước tính vào khoảng 53,6 triệu người và hàng năm gia tăng thêm 0,8 triệu người.  Ngoài ra, lao động Việt Nam còn được đánh giá cao bởi sức trẻ, sự chăm chỉ, trình độ học vấn cao và dễ đào tạo. Đây là một trong những lợi thế cạnh tranh của Việt Nam so với những thị trường lao động khác trong khu vực.

Hầu hết lao động người Việt Nam có những kỹ năng làm việc tốt và có khả năng thích nghi cao với môi trường làm việc mới. Tuy nhiên, để có thể đáp ứng được yêu cầu của những nhà đầu tư nước ngoài trong những ngành nghề kinh doanh đặc biệt và chuyên nghiệp, người lao động vẫn cần được đào tạo thêm một số kỹ năng nhất định.

Thứ ba, hệ thống chính sách đầu tư cởi mở và minh bạch

Những chính sách về kinh tế nói chung và về đầu tư và kinh doanh nói riêng ở Việt Nam đã được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây. Sự chuyển tiếp từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng của chính sách kinh tế của Việt Nam. Điều này đã tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế ổn định.

Từ sau sự chuyển tiếp này, chính quyền Việt Nam đã có nhiều thay đổi đáng kể về nhận thức. Quan điểm thận trọng và bảo thủ của những người đứng đầu Nhà nước trong giai đoạn chiến tranh lạnh đã được thay thế bằng một thái độ cởi mở và thân thiện, phù hợp hơn với bối cảnh mới, khi mà Việt Nam đang cố gắng thu hút và khuyến khích đầu tư nước ngoài. Thực tế, những chính sách này đã thành công trong việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài và phát triển nền kinh tế quốc gia. Đặc biệt, việc hội nhập vào nền kinh tế thế giới đã tự do hóa các chế độ thương mại quốc gia, cải tạo môi trường pháp lý để thúc đẩy việc xây dựng một môi trường đầu tư an toàn và hấp dẫn.

Điều quan trọng nhất là chính phủ Việt Nam đã nỗ lực rất nhiều trong việc làm cho hệ thống kinh tế trở nên minh bạch hơn thông qua nhiều biện pháp khác nhau. Ấn tượng về một môi trường đầu tư bất ổn và rủi ro ở Việt Nam, điều đã ngăn cản các nhà đầu tư nước ngoài trong một thời gian dài nay đã được thay đổi. Sự minh bạch đó được tăng cường không chỉ qua những chính sách kinh tế vĩ mô mà còn được duy trì tại những dự án và kế hoạch cụ thể.

Thứ tư, hệ thống pháp luật ổn định và đang được cải thiện

Trong những năm gần đây, sau quá trình chuyển tiếp, hội nhập và toàn cầu hóa, Việt Nam đang trên con đường xây dựng và cải thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật liên quan tới lĩnh vực đầu tư và kinh doanh nói riêng. Khởi đầu bằng việc sửa đổi Hiến pháp vào năm 2001 và ban hành bản sửa đối Hiến Pháp vào năm 2013, tại đó công nhận hệ thống kinh tế gồm nhiều thành phần, đồng thời quy định tại Bộ Luật Dân sự 2005 tái thừa nhận quyền sở hữu cá nhân, Quốc hội Việt Nam đã thông qua nhiều luật và quy định nhằm điều chỉnh các công cụ khác nhau trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nhìn chung, hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam đang ngày càng trở nên hoàn thiện và ổn định. Việc ban hành và áp dụng hàng loạt các văn bản luật như Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Cạnh tranh, Luật Sở hữu trí tuệ v.v. đã lấp đi những khoảng trống và mâu thuẫn của hệ thống pháp luật, mang lại niềm tin cho hoạt động kinh doanh trong nước và nước ngoài.

Tóm lại, những thành tựu về lập pháp đã tạo ra nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam. Cùng với một hệ thống chính sách về kinh tế cởi mở, minh bạch và một hệ thống pháp luật ổn định, ngày càng được cải thiện, Việt Nam đang mang đến cho thế giới nhiều lý do thuyết phục để trở thành lựa chọn hàng đầu cho các nhà đầu tư quốc tế.