Hoạt động xuất bản là một trong những ngành nghề chưa được Việt Nam cam kết khi gia nhập WTO. Do đó, để xác định nhà đầu tư nước ngoài có được thực hiện đầu tư ngành nghề này hay không cần phải kiểm tra các văn bản pháp luật trong nước. Theo quy định tại Phụ lục 4 Luật Sửa Đổi, Bổ Sung Điều 6 Và Phụ Lục 4 Về Danh Mục Ngành, Nghề Đầu Tư Kinh Doanh Có Điều Kiện Của Luật Đầu Tư, hoạt động của nhà xuất bản là hoạt động đầu tư kinh doanh có điều kiện, như vậy pháp luật không cấm nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào hoạt động xuất bản nhưng nhà đầu tư nước ngoài phải đáp ứng được các điều kiện của pháp luật chuyên ngành. Tại Điều 13, Điều 17 Luật Xuất bản 2012 và Điều 8 Nghị định 195/2013/NĐ-CP thì điều kiện thành lập nhà xuất bản được quy định như sau:

– Trụ sở của nhà xuất bản có diện tích từ 200 mét vuông (m2) sử dụng trở lên

– Có ít nhất 05 (năm) tỷ đồng để bảo đảm hoạt động xuất bản

– Có đủ trang thiết bị để tổ chức xuất bản

– Tổng giám đốc (giám đốc) của nhà xuất bản phải là công dân Việt Nam, có trình độ đại học và có ít nhất 03 năm là một trong các công việc biên tập, quản lý xuất bản hoặc báo chí, quản lý tại cơ quan chủ quản nhà xuất bản

– Tổng biên tập phải có chứng chỉ hành nghề biên tập, có ít nhất 03 năm làm công việc biên tập tại nhà xuất bản hoặc cơ quan báo chí

Khi đã đáp ứng đủ các điều kiện trên nhà đầu tư nước ngoài phải xin chủ trương của Chính phủ để được phê duyệt dự án.

Theo quy định tại Điều 1 Luật Xuất bản 2012, hoạt động xuất bản bao gồm các lĩnh vực xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm. Tại Điều 13 Nghị định 195/2013/NĐ-CP quy định như sau:

Điều 13. Điều kiện, hồ sơ cấp giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm và các trường hợp thu hồi giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm

1. Cơ sở in được cấp giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm (bao gồm các công đoạn chế bản, in, gia công sau in) khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Theo quy định tạiKhoản 1 Điều 32 Luật xuất bản;

b) Chủ sở hữu là tổ chức, cá nhân Việt Nam.

2. Giấy tờ, tài liệu chứng minh về người đứng đầu cơ sở in, có mặt bằng sản xuất và thiết bị trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm tạiKhoản 2 Điều 32 Luật xuất bảnđược quy định cụ thể như sau:

a) Đối với người đứng đầu cơ sở in xuất bản phẩm: Là người đại diện theo pháp luật được ghi tại một trong các loại giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy chứng nhận đầu tư, quyết định thành lập của cơ quan có thẩm quyền; văn bằng do cơ sở đào tạo chuyên ngành in cấp cho người đứng đầu phải là bản sao có chứng thực bằng tốt nghiệp cao đẳng về in trở lên hoặc giấy chứng nhận bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý hoạt động in xuất bản phẩm do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp;

b) Đối với tài liệu chứng minh về mặt bằng sản xuất: Phải là bản chính hoặc bản sao có chứng thực giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng hay các loại giấy tờ khác chứng minh về việc giao đất, thuê đất, thuê mặt bằng, nhà xưởng để sản xuất;

c) Đối với tài liệu chứng minh về thiết bị: Phải là bản sao giấy tờ sở hữu hoặc thuê mua thiết bị; trường hợp chưa có thiết bị, trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép phải kèm theo danh mục thiết bị dự kiến đầu tư.

Trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày được cấp giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm, cơ sở in phải hoàn thành việc mua hoặc thuê mua đủ thiết bị theo danh mục dự kiến đầu tư, gửi bản sao chứng từ mua, thuê mua thiết bị cho cơ quan cấp giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm.

3. Ngoài quy định tại Khoản 8 Điều 32 Luật xuất bản, cơ sở in xuất bản phẩm bị thu hồi giấy phép hoạt động theo một trong các trường hợp sau:

a) Không đáp ứng điều kiện quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều này;

b) Hết thời hạn 06 tháng, kể từ ngày được cấp giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm không đầu tư đủ thiết bị theo quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều này.

Như vậy, theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 13 Nghị định 195/2013/NĐ-CP thì để được cấp giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm thì chủ sở hữu phải là tổ chức, cá nhân Việt Nam. Như vậy trường hợp nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hoạt động xuất bản sẽ không được cấp giấy phép để in xuất bản phẩm.