Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2009, Nhà nước Việt Nam đã bắt đầu một chương trình thí điểm tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh cho phép mỗi người nước ngoài được sở hữu một nhà ở tại Việt Nam trong trường hợp họ đáp ứng được một số điều kiện.

Sau thời gian thí điểm, tình hình thị trường mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người nước ngoài cho thấy nhiều dấu hiệu tích cực trong việc thu hút các nguồn vốn đầu tư vàtài chính dồi dào từ nước ngoài, tuy nhiên, việc xem xét và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà cho các cá nhân, tổ chức nước ngoài vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Ngày 01 tháng 07 năm 2015 đánh dấu một bước ngoặt về lập pháp, khi Luật Nhà ở năm 2014 vàLuật Kinh doanh Bất động sản năm 2014 có hiệu lực, cho phép các cá nhân và tổ chức nước ngoài sở hữu nhà ở (thương mại) tại Việt Nam, bao gồm căn hộ và nhà ở riêng lẻ[1] trong các dự án đầu tư nhà ở, trừ các địa bàn sử dụng cho quốc phòng và an ninh quốc gia theo quy định của Chính phủ Việt Nam. Đây làmột bước nhảy vọt cho Chính phủ Việt Nam trong việc tạo điều kiện thuận lợi để duy trì và thu hút nhiều hơn nữa các hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, cũng như phát triển lĩnh vực kinh doanh bất động sản của Việt Nam.

  • Điều kiện để các cá nhân/tổ chức nước ngoài sở hữu nhà ở tại Việt Nam

Mặc dù hiện tại việc sở hữu nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam đã được công nhận về mặt pháp lý, người nước ngoài trước hết vẫn cần phải thỏa mãn một số điều kiện gồm:

  • Các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào dự án xây dựng nhàở tại Việt Nam phải có giấy chứng nhận đầu tư cho dự án xây dựng nhà ở;
  • DNĐTNN, các chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài, quỹ đầu tư nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam phải có giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy tờ liên quan đến việc được phép hoạt động tại Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền cấp. Các tổ chức này được phép sở hữu nhàtrong thời hạn thỏa thuận theo hợp đồng mua bán nhàở nhưng không vượt quá thời hạn ghi trong giấy chứng nhận đầu tư của tổ chức đó, kể cả thời gian gia hạn. Thời hạn sở hữu nhà ở được tính từ ngày cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhàở vàphải được ghi rõ trong giấy chứng nhận này; và
  • Cá nhân nước ngoài phải: (i) có đầy đủ năng lực dân sự để tham gia vào các giao dịch về nhà ở theo quy định của pháp luật của Việt Nam; và (ii) nhập cảnh hợp pháp vào Việt Nam và không thuộc diện hưởng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao theo quy định của pháp luật hiện hành. Cá nhân nước ngoài được phép sở hữu nhàở có thời hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán nhàở nhưng không quá 50 năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà. Thời hạn này có thể được gia hạn theo quy định của pháp luật Việt Nam nếu được quy định.