Theo nhiều nhà tư vấn và chuyên gia về kinh doanh hiện nay, Việt Nam có tiềm năng lớn trong việc thu hút đầu tư nước ngoài trong những năm tới. Đối với các nhà đầu tư nước ngoài mong muốn bắt đầu các hoạt động đầu tư tại Việt Nam, họ có thể bắt đầu việc kinh doanh của mình thông qua nhiều cách khác nhau, chẳng hạn như thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư thông qua việc góp vốn, mua cổ phần hoặc phần vốn góp trong một công ty hiện có; tiến hành đầu tư trên cơ sở hợp đồng kinh doanh; hoặc thực hiện một dự án đầu tư.

  • Đầu tư thông qua việc thành lập một công ty

Theo Luật doanh nghiệp, các nhà đầu tư nước ngoài được tự do lựa chọn một trong các hình thức sau đây để thành lập công ty tại Việt Nam:

– Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (“TNHH”);

– Công ty TNHH hai thành viên trở lên;

– Công ty Cổ phần (“CTCP”);

– Công ty hợp danh;

– Doanh nghiệp tư nhân.

Trong số các loại hình doanh nghiệp trên, loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất mà nhà đầu tư nước ngoài thường lựa chọn là Công ty TNHH (một thành viên hoặc hai thành viên trở lên) và công ty cổ phần.

  • Đầu tư bằng cách mua cổ phần, phần vốn góp trong một công ty hiện hữu

Nhà đầu tư nước ngoài được góp vốn, mua cổ phần/phần vốn góp trong một công ty hiện hữu được thành lập tại Việt Nam bằng cách:

– Mua cổ phần trong công ty cổ phần từ các cổ đông của công ty, hoặc mua cổ phần khi chào bán chứng khoán lần đầu ra công chúng, hoặc cổ phiếu phát hành thêm của các công ty cổ phần;

– Mua phần vốn góp hoặc góp vốn vào một công ty trách nhiệm hữu hạn để trở thành thành viên của công ty; hoặc

– Mua cổ phần/phần vốn góp theo những cách khác.

  • Đầu tư thông qua hợp đồng kinh doanh

Nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư vào Việt Nam bằng cách ký một trong những hợp đồng sau:

  • Hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư (“Hợp đồng PPP“)

Nhà đầu tư nước ngoài hay các doanh nghiệp có dự án phải ký Hợp đồng PPP với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện các dự án đầu tư xây dựng mới, hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng, quản lý và vận hành các cơ sở hạ tầng hoặc cung ứng dịch vụ công.

  • Hợp đồng hợp tác kinh doanh (“Hợp đồng BCC“)

Là hợp đồng được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế. Các bên tham gia hợp đồng BCC sẽ thành lập ban điều phối để thực hiện hợp đồng BCC. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ban điều phối do các bên thỏa thuận.

Để hỗ trợ hơn nữa cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, Quốc hội vừa sửa đổi một số văn bản pháp luật quan trọng liên quan đến đầu tư, trong đó có Luật Đầu tư mới (“LĐT”) và Luật Doanh nghiệp (“LDN”) . LĐT đặt ra khuôn khổ pháp lý cho hoạt động đầu tư tại Việt Nam, trong khi LDN quy định về việc thành lập và hoạt động của các doanh nghiệp ở Việt Nam, kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Theo đó, để đầu tư vào Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài trước hết phải xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (“GCNĐT”) theo LĐT. Trong trường hợp muốn thành lập một doanh nghiệp, họ sau đó sẽ phải tiến hành các thủ tục pháp lý để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (“GCNDN”) cho việc thành lập doanh nghiệp theo LDN.

Cùng với LĐT và LDN, việc đầu tư vào Việt Nam cũng được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật quan trọng sau đây:

Các hiệp ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đặc biệt là các cam kết của Việt Nam với Tổ chức Thương mại Thế giới (“WTO”) và sắp tới là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (“TPP”); và

Pháp luật chuyên ngành liên quan đến phạm vi hoạt động kinh doanh của các dự án đầu tư, chẳng hạn như Luật Kinh doanh Bất động sản, Luật Khám chữa bệnh, Luật Giáo dục, Luật Dạy nghề, Luật Hóa chất, v.v.