bigstock-Business-Team-Corporate-Organi-106466624-1024x512Ngày 28/12/2016, Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 35/2016/TT-BCT quy định việc xác định người lao động nước ngoài di chuyển trong nội bộ doanh ng
hiệp thuộc phạm vi mười một ngành dịch vụ trong biểu cam kết cụ thể về dịch vụ của Việt Nam với tổ chức thương mại thế giới không thuộc diện cấp giấy phép lao động (“Thông tư 35”), có hiệu lực thi hành từ ngày 10/2/2017 thay thế Thông tư 41/2014/TT-BCT ban hành ngày 5/11/2014 (“Thông tư 41”). So với Thông tư 41, Thông tư 35 đã bổ sung thêm một số điểm mà doanh nghiệp nước ngoài, người lao động nước ngoài cần phải lưu ý khi thực hiện.

Thứ nhất, đối với văn bản của doanh nghiệp nước ngoài cử người lao động sang làm việc tại hiện diện thương mại của doanh nghiệp nước ngoài đó trên lãnh thổ Việt Nam thì thông tin của người lao động được quy định chi tiết, cụ thể hơn. Nếu như trước đây trong Thông tư 41 đối với văn bản này chỉ cần yêu cầu người lao động ghi rõ về thời gian làm việc, nhưng kể từ ngày Thông tư 35 có hiệu lực thi hành để đảm bảo đầy đủ thông tin của người lao động được cử sang cần nêu rõ về vị trí công việc, chức danh công việc và thời gian làm việc.

Thứ hai, lược bỏ những điều kiện, giấy tờ không cần thiết đối với các vị trí như nhà quản lý hoặc giám đốc điều hành. Kể từ ngày Thông tư 35 có hiệu lực chỉ cần văn bản chứng minh đối với chuyên gia hoặc lao động kỹ thuật thực hiện theo quy định, đối với các chức danh như nhà quản lý và giám đốc điều hành thì không cần văn bản xác nhận như trong Thông tư 41 nữa. Đây là một điểm mới tích cực, bởi đối với những vị trí như nhà quản lý hoặc giám đốc điều hành thì trong văn bản cử người lao động sang làm việc đã có nêu rõ về vị trí và chức danh, nếu quy định thêm văn bản xác nhận nữa thì không những sẽ gây ra sự trùng lặp mà còn tốn thời gian để doanh nghiệp chuẩn bị thêm một loại giấy tờ không cần thiết.

Thứ ba, trong Thông tư 41 quy định văn bản của doanh nghiệp nước ngoài cử sang làm việc, văn bản xác nhận nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia hoặc lao động kỹ thuật, văn bản chứng minh người lao động đã được tuyển dụng ít nhất 12 tháng chỉ cần 01 bản chính và 01 bản sao, nếu bằng tiếng nước ngoài thì miễn hợp pháp hóa lãnh sự nhưng phải dịch ra tiếng Việt và chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên nội dung Thông tư 35 lại không quy định việc được miễn hợp pháp hóa lãnh sự các văn bản nêu trên, điều này vô hình chung quy định rằng các văn bản nêu trên bắt buộc phải được hợp pháp hóa lãnh sự và phải được dịch, chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam. Quy định này khiến cho doanh nghiệp phải tốn thêm thời gian thực hiện thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự trước khi văn bản được sử dụng tại Việt Nam.

Theo Thông tư 35 có hiệu lực vào ngày 10/2/2017, hồ sơ để xác định người lao động nước ngoài di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp thuộc phạm vi mười một ngành dịch vụ trong Biểu cam kết dịch vụ với WTO không thuộc diện cấp giấy phép lao động bao gồm:

  1. Văn bản của doanh nghiệp nước ngoài cử người lao động sang làm việc tại hiện diện thương mại của doanh nghiệp nước ngoài đó trên lãnh thổ Việt Nam có nêu vị trí công việc, chức danh công việc và thời gian làm việc;
  1. Văn bản chứng minh người lao động nước ngoài là chuyên gia hoặc lao động kỹ thuật;
  1. Văn bản chứng minh người lao động nước ngoài đã được doanh nghiệp nước ngoài tuyển dụng ít nhất 12 tháng trước khi được cử sang làm việc tại hiện diện thương mại của doanh nghiệp nước ngoài đó trên lãnh thổ Việt Nam;
  1. Văn bản chứng minh hiện diện thương mại của doanh nghiệp nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam hoạt động trong phạm vi mười một ngành dịch vụ quy định.

Việc xác nhận người lao động nước ngoài di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp thuộc phạm vi mười một ngành dịch vụ trong Biểu cam kết dịch vụ với WTO không thuộc diện cấp giấy phép lao động thực hiện theo quy định tại Nghị định số 11/2016/NĐ-CP và Thông tư số 40/2016/TT- BLĐTBXH.