1. HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ

Hoạt động chuyển giao công nghệ là một hoạt động tiên quyết và sống còn của doanh nghiệp trong nền kinh tế hiện nay. Tuy nhiên, doanh nghiệp Việt Nam không có nhiều kinh nghiệm, kiến thức và hiểu biết pháp luật trong vấn đề chuyển giao công nghệ. Các hợp đồng chuyển giao công nghệ hiện tại có nhiều sơ hở, đặc biệt các điều khoản về chuyển giao tài sản sở hữu trí tuệ, về trợ giúp kỹ thuật và vận hành hệ thống công nghệ sau khi nhận chuyển giao. Có thể nhìn lại lịch sử Unilever mua lại nhãn hiệu P/S và Cocacola mua lại nhãn hiệu xá xị Chương Dương để xâm nhập thị trường, kênh phân phối.

Hoạt động chuyển giao công nghệ ở Việt Nam hiện tại được điều chỉnh bởi Luật chuyển giao công nghệ 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Theo đó, Luật chuyển giao công nghệ định nghĩa “Chuyển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ.”

Đối tượng công nghệ được chuyển giao là một phần hoặc toàn bộ công nghệ gồm: Bí quyết kỹ thuật; Kiến thức kỹ thuật về công nghệ được chuyển giao dưới dạng phương án công nghệ, quy trình công nghệ, giải pháp kỹ thuật, công thức, thông số kỹ thuật, bản vẽ, sơ đồ kỹ thuật, chương trình máy tính, thông tin dữ liệu; Giải pháp hợp lý hoá sản xuất, đổi mới công nghệ. Đối tượng công nghệ được chuyển giao có thể gắn hoặc không gắn với đối tượng sở hữu công nghiệp.

Việc chuyển giao công nghệ được thực hiện thông qua các hình thức sau đây: Hợp đồng chuyển giao công nghệ độc lập; hoặc Phần chuyển giao công nghệ trong dự án hay hợp đồng gồm: Dự án đầu tư; Hợp đồng nhượng quyền thương mại; Hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp; Hợp đồng mua bán máy móc, thiết bị kèm theo chuyển giao công nghệ. Hình thức chuyển giao công nghệ khác theo quy định của pháp luật. Việc giao kết hợp đồng chuyển giao công nghệ được thực hiện thông qua hợp đồng bằng văn bản hoặc hình thức khác có giá trị tương đương văn bản, bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.

Theo điều 44 và điều 45 Luật chuyển giao công nghệ 2005 thì doanh nghiệp hoạt động chuyển giao công nghệ nhận được rất nhiều ưu đãi miễn giảm thuế. Tuy nhiên, đa số các quy định này đã bị huỷ bỏ bởi Luật số 32/2013/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thuế thu nhập doanh nghiệp. Hiện tại doanh nghiệp còn hưởng 2 chính sách thuế cụ thể như sau:

– Miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để sử dụng trực tiếp vào hoạt động nghiên cứu phát triển công nghệ, đổi mới công nghệ, bao gồm máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư, phương tiện vận tải trong nước chưa sản xuất được, công nghệ trong nước chưa tạo ra được; tài liệu, sách báo khoa học.

– Máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải chuyên dùng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được phục vụ cho việc thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ không chịu thuế giá trị gia tăng.

  1. HOẠT ĐỘNG ĐỊNH GIÁ CÔNG NGHỆ

Đến thời điểm hiện tại, khi doanh nghiệp Việt Nam nhìn thấy được tầm quan trọng của đổi mới công nghệ thì vấn đề xảy ra đó là xác định giá trị công nghệ chuyển giao lại là bài toàn phức tạp. Việc định giá công nghệ là căn cứ quan trọng để khai thác và chuyển giao công nghệ.

Hiện tại chúng ta đã có một hệ thống các văn bản pháp luật làm cơ sở để thực hiện thẩm định giá tài sản sở hữu trí tuệ, đặc biệt là thông tư liên 39/2014/TTLT-BKHCN-BTC Quy định việc định giá kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tài sản trí tuệ sử dụng ngân sách nhà nước và Thông tư 06/2014/TT-BTC Ban hành tiêu chuẩn thẩm định giá số 13. Theo đó, chúng ta có 3 cách thức để thẩm định giá tài sản sở hữu trí tuệ là:

  • Phương pháp dựa vào thu nhập: Đây là phương pháp định giá tài sản trí tuệ được sử dụng một cách phổ biến nhấ Phương pháp này tập trung vào nguồn thu nhập ước tính mà chủ thể quyền sở hữu trí tuệ mong muốn nhận được trong thời gian hiệu lực của quyền sở hữu trí tuệ, vì vậy, phương pháp này sử dụng khấu hao nguồn tiền mặt để tạo ra giá trị hiện tại cho nguồn thu nhập tương lai.
  • Phương pháp dựa vào chi phí: Phương pháp này xác định giá trị của tài sản dựa trên các chi phí sản xuất, nghiên cứu, hình thày tài sản, chi phí đăng ký xác lập quyền, chi phí bảo vệ tái sản này.
  • Phương pháp dựa vào thị trường: Phương phám này dựa vào việc định giá một tài sản trí tuệ tương tự trên thị trườ Nhược điểm chính của phương pháp này là do mỗi giao dịch tài sản trí tuệ là duy nhất nên hầu như không thể gặp một thỏa thuận tương tự để có thể làm căn cứ cho việc định giá mới.

Để có thể định gía được các tài sản sở hữu trí tuệ, đơn vị định giá bắt buộc phải có kiến thức vững vàng về tài chính cũng các quyền tài sản của các tài sản sở hữu trí tuệ. Bởi vậy, tự thân các doanh nghiệp không thể có đủ năng lực để tự định giá mà phải thông qua các tổ chức định giá chuyên nghiệp. Nhiều trường hợp phải mua với giá cao hoặc bán với giá thấp hơn giá trị thật rất nhiều lần mà không biết. Trong thực tế, nhiều công nghệ chuyển giao từ nước ngoài vào Việt Nam thông qua các dự án sử dụng nguồn vốn ODA đối với kết cấu hạ tầng và đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Việt Nam (FDI) đối với sản xuất và dịch vụ, trong khi ta không có chuyên gia sâu về lĩnh vực định giá công nghệ sẽ dẫn đến những thua thiệt không đáng có hoặc nhận vào những công nghệ lạc hậu, thải loại của đối tác.

Vì vậy, các tổ chức định giá có vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác định giá trị tài sản trí tuệ nhằm xác định giá mua bán, chuyển nhợng, quản lý, khai thác, tham gia liên doanh, huy động vốn, thế chấp các tài sản này. Hiện tại, các tổ chức/cá nhân cung ứng dịch vụ định giá theo Luật Giá đều đăng ký định giá công nghệ, tuy nhiên trong thực tế, hầu hết các tổ chức này đều chưa thực hiện các dịch vụ định giá công nghệ. Hầu như chưa có tổ chức và chuyên gia chuyên biệt cho công tác định giá công nghệ. Việc định giá thường do các cán bộ quản lý công nghệ hay cán bộ có kinh nghiệm lâu năm được mời làm tư vấn khi thương thảo hợp đồng mua bán công nghệ. Bởi vậy, hiện tại các chứng thư thẩm định giá công nghệ Việt Nam thường chỉ nhằm hợp thức hoá các giao dịch. Trên cơ sở gía thoả thuận của các bên, công ty thẩm định giá lập chứng thư bằng cách thiết lập dữ liệu, tổng hợp, và logic hoá các thông số tạo thành giá cả của thảo thuận chuyển nhượng này.

Theo đó, để thúc đẩy hoạt động định giá công nghệ cũng như hoạt động chuyển giao công nghệ, Việt Nam cần sớm hình thành các tổ chức sự nghiệp chuyên sâu về định giá công nghệ.

Tác giả: Phạm Thị Thoa – Apolat Legal