1. Các rủi ro ở cấp độ lãnh đạo doanh nghiệp:

+ Đa số nhà đầu tư (investor) hiện vẫn quen nghĩ về các cơ hội đầu tư hay danh mục đầu tư thông qua các dòng tiền tệ hoặc các tài sản cố định/tài sản hữu hình (tangible assets). Do vậy, tuy đã ít nhiều lưu tâm đến vai trò của các đơn vị tài sản trí tuệ trong kinh doanh, hầu hết chủ sở hữu doanh nghiệp vẫn chưa nhận biết và phân biệt rõ ràng về chủng loại, bản chất và đặc điểm của các tài sản trí tuệ khác nhau; từ đó, chưa hình dung được cách thức quản trị thích hợp để đưa ra các yêu cầu cụ thể liên quan đến tài sản trí tuệ với các nhà điều hành trực tiếp (Ban Giám đốc, CEO, CFO, CIO…(C-suite)), bên cạnh các chỉ tiêu quen thuộc về thị phần, doanh thu, lợi nhuận, quản trị chất lượng, đổi mới công nghệ, tái cấu trúc…

+ Hầu hết các nhà điều hành trực tiếp hiện cũng chưa thể nhận biết và phân biệt rõ ràng các loại tài sản trí tuệ khác nhau, ngay cả khi họ đang điều hành doanh nghiệp một cách thành công trong ngắn hạn hoặc trung hạn, Từ đó, cũng chưa nhận diện được đầy đủ các rủi ro gắn liền với các tài sản trí tuệ trong từng khâu tác nghiệp cũng như trong toàn bộ chiến lược kinh doanh.

+ Đôi khi, xung đột lợi ích liên quan đến các tài sản trí tuệ còn có thể xảy ra giữa bản thân các chủ sở hữu doanh nghiệp/nhà đầu tư với nhau, như khi một nhà đầu tư vừa sử dụng thông tin/bí quyết/kỹ năng riêng có để hợp tác kinh doanh với các đồng sở hữu chủ khác tại doanh nghiệp X, lại vừa ngầm sử dụng thông tin/bí quyết/kỹ năng đó cho doanh nghiệp Y của riêng mình hoặc có phần vốn góp của mình để ít nhiều cạnh tranh trực tiếp với doanh nghiệp X;

+ Xung đột lợi ích liên quan đến các tài sản trí tuệ càng dễ xảy ra hơn giữa chủ sở hữu doanh nghiệp/nhà đầu tư với các nhà điều hành, như khi một CEO cố ý chiếm hữu riêng các thông tin quan trọng mà mình có dịp nắm bắt và xử lý, để trong tương lai có thể cạnh tranh ngược với doanh nghiệp mà mình đang được thuê mướn điều hành.

  1. Các rủi ro trong hoạt động tác nghiệp:

Trong bối cảnh tập thể lãnh đạo còn chưa có điều kiện nhận biết đầy đủ về bản chất của vấn đề, các rủi ro liên quan đến các tài sản trí tuệ càng dễ nảy sinh tại các khâu tác nghiệp khác nhau trong doanh nghiệp, cụ thể như:

+ Đại đa số nhà kỹ thuật trong nước chưa có kỹ năng và thói quen tra cứu thông tin sáng chế trước khi tiến hành thiết kế, nên vừa chưa tiếp cận và hấp phụ được trình độ của đồng nghiệp quốc tế, vừa dễ nghiên cứu trùng lặp và lãng phí khiến trình độ kỹ thuật chung của Việt Nam chậm được đổi mới, vừa không đánh giá được cơ hội khai thác các sáng chế quốc tế khả dụng nhưng không bảo hộ tại các thị trường mục tiêu của doanh nghiệp hoặc đã hết thời hạn bảo hộ. Mặt khác, khi tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ nước ngoài, cũng thiếu thông tin để đánh giá, định giá trong tiến trình đàm phán.

+ Người lao động chuyên môn không được hướng dẫn để nhận biết và không có nghĩa vụ phải khai báo kịp thời và đầy đủ với cấp quản lý liên quan về các đơn vị tài sản trí tuệ mới phát sinh, đặc biệt là các đối tượng sở hữu trí tuệ;

+ Từ đó, nhiều dữ liệu, thông tin hoặc tri thức về công nghệ/marketing/tài chính/thị trường… mới đã không được chú ý bảo vệ như một bí mật kinh doanh hoặc để bảo đảm về tính mới (novelty – với các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp hay giống cây trồng) hoặc tính nguyên gốc/nguyên tác (originality – với các loại hình tác phẩm), nhằm phục vụ các thủ tục/thao tác xác lập quyền sở hữu trí tuệ liên quan;

+ Nhiều doanh nghiệp hiện cũng đã đưa ra một số quy định về bảo mật trong các loại nội quy khác nhau như Nội quy lao động, Quy tắc sử dụng máy tính/mạng…, hoặc đã ban hành hẳn một Quy chế bảo mật độc lập. Tuy nhiên, khi chưa nắm vững cách thức nhận diện tách bạch và rõ ràng từng đơn vị tài sản trí tuệ cụ thể, chưa hiểu rõ phạm vi bảo hộ cùng thủ tục xác lập quyền đối với từng đối tượng sở hữu trí tuệ, các quy định về bảo mật cũng không thể phát huy đầy đủ hiệu quả pháp lý. Thí dụ: thông tin mật có thể không được đánh dấu và lưu giữ đúng cách nên mất khả năng ràng buộc và chế tài đối với các hành vi vô tình hoặc cố ý tiết lộ, đối thủ cạnh tranh có thể nắm bắt thông tin rò rỉ và thực hiện các hành vi khai thác thương mại/đăng ký bảo hộ/công bố…, làm mất tính mới của đối tượng sở hữu trí tuệ liên quan…;

+ Trong bối cảnh đó, một bộ phận người lao động chuyên môn sẽ có xu hướng giữ riêng và chiếm hữu nhiều dữ liệu/thông tin/bí quyết/tri thức/đơn vị tài sản trí tuệ mới do mình tạo ra hoặc tham gia tạo ra trong các hoạt động thực hiện theo hợp đồng/nhiệm vụ được giao (work for hire), nhằm có thể sử dụng vì lợi ích riêng tư hoặc lợi ích của một bên thứ ba. Thí dụ, kỹ sư có thể không báo cáo hết các phương án thiết kế, nhà tạo mẫu có thể không trình bày hết ý tưởng sáng tạo, giám đốc marketing hoặc giám đốc nhãn hiệu có thể không đưa vào hồ sơ lưu trữ của doanh nghiệp một số kết quả nghiên cứu thị trường, giám đốc tài chính giữ riêng một số thông tin liên quan đến các nguồn/cơ chế tín dụng ưu đãi…, làm tăng động cơ và theo đó là tỷ lệ người lao động chuyên môn rời bỏ doanh nghiệp (staff/labor turnover);

+ Một số doanh nghiệp hiện cũng đã tổ chức hoặc đang duy trì hoạt động quản trị sáng kiến đổi mới (innovation management), bao gồm cả các cơ chế khen thưởng để khuyến khích việc đưa ra các ý kiến sáng tạo ở nhiều cấp độ khác nhau. Tuy nhiên, hầu như chưa doanh nghiệp nào chú ý đầy đủ đến các quy định pháp lý liên quan đến việc phân định quyền sở hữu/đồng sở hữu đối với các đơn vị tài sản trí tuệ mới phát sinh, đến quyền nhân thân và quyền tài sản của các tác giả và đồng tác giả, đặc biệt là các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ. Điều đó ít nhiều làm nảy sinh lòng nghi ngại và cân nhắc khi người sáng tạo mong muốn được hưởng mức thù lao xứng đáng để có thể tận tâm cống hiến. Từ đó, hoạt động sáng kiến cũng chưa thể phát huy hết tác dụng kỳ vọng, nhiều khi chỉ mang tính phong trào hoặc chỉ nhằm giúp khai tăng các chi phí hợp lệ, tiết giảm lợi nhuận/thuế thu nhập doanh nghiệp;

+ Trong mối quan hệ với các đối tác, trong nhiều trường hợp doanh nghiệp không đưa ra hoặc đưa ra một cách không phù hợp các quy định liên quan đến bảo mật (thí dụ, nghĩa vụ bảo mật của nhà tư vấn pháp lý/công nghệ/tài chính/nghiên cứu thị trường…). Ngày nay, tuy hầu hết các cá nhân/tổ chức cung ứng dịch vụ tư vấn đều có quy tắc đạo đức nghề nghiệp của mình trong việc bảo mật thông tin của khách hàng, nhưng sự dễ dãi/thiếu cẩn trọng trong giao kết bảo mật vẫn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro trong tương lai, trong bối cảnh các dữ liệu, thông tin, bí quyết và tri thức ngày càng trở thành một nguồn lực trực tiếp trong hoạt động sản xuất/cung ứng dịch vụ và thường gắn liền với các cơ hội kinh doanh;

+ Cũng trong mối quan hệ với các đối tác, hầu hết các doanh nghiệp đều chưa chú ý giao kết hoặc giao kết chưa đúng cách về các vấn đề liên quan đến các đơn vị tài sản trí tuệ mới phát sinh trong quá trình thực hiện/triển khai các loại hợp đồng như: hợp đồng thuê khoán chuyên môn, hợp đồng R&D, hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng nghiên cứu thị trường… Cụ thể như các giao kết về cách phân định quyền sở hữu/tỷ lệ sở hữu, nghĩa vụ/thủ tục ghi nhận, thông báo và chuyển giao đầy đủ và kịp thời các đơn vị tài sản trí tuệ mới phát sinh… Hệ quả là, nhiều đơn vị tài sản trí tuệ đã bị bỏ sót hoặc rơi về tay đối tác, thay vì có thể trở thành quyền tài sản của doanh nghiệp và trở thành một công cụ hoặc một nguồn lực kinh doanh;

+ Đa số nếu các doanh nghiệp nếu có chú ý đến cũng xem tài sản sở hữu trí tuệ như một công cụ sản xuất/cung ứng dịch vụ, rất ít doanh nghiệp chú ý đến khía cạnh tài chính của tài sản trí tuệ như: ghi nhận các đơn vị tài sản trí tuệ như một đơn vị Tài sản Cố định vô hình (theo Chuẩn mực kế toán số 4 ) để tiến hành quản lý và khấu hao theo quy định , chuyển giao công nghệ hoặc cấp li-xăng cho đối tác trong/ngoài nước (trong đó, nhượng quyền thương mại (franchising) là một mô thức li-xăng đặc biệt)… Từ đó, doanh nghiệp đã vô tình bỏ qua hoặc không biết cách vận dụng một số chiến thuật/sách lược tài chính có liên quan như: chuyển giá nội bộ/quốc tế (transfer pricing) một cách thích đáng, góp vốn bằng tài sản trí tuệ, chuyển giao các tài sản trí tuệ không sử dụng được/sử dụng không hiệu quả trong chuỗi giá trị doanh nghiệp để tạo thêm dòng tiền hoặc giúp hình thành các liên minh chiến lược (strategic alliances)…;

  1. Các rủi ro liên quan đến các quyền sở hữu trí tuệ:

Trong trường hợp các đơn vị tài sản trí tuệ mới phát sinh là một đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ và đã được xác lập quyền sở hữu trí tuệ liên quan, doanh nghiệp vẫn có thể gặp phải các rủi ro như:

+ Không chú ý theo dõi hoạt động sở hữu trí tuệ của đối thủ cạnh tranh nên không phản ứng kịp thời với một số hành vi của họ có thể gây xung đột về quyền sở hữu trí tuệ như: sử dụng/đăng ký nhãn hiệu tương tự và có thể gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được bảo hộ của doanh nghiệp, sao chép một phần các tác phẩm (hoa văn, họa tiết, bao bì, mẫu thiết kế, thông điệp/giai điệu quảng cáo…) để lợi dụng thành quả đầu tư hoặc hòa loãng phong cách của nhãn hiệu (brand identity dilution) và theo đó là hình ảnh của nhãn hiệu (brand image dilution) của doanh nghiệp, sao chép hoặc sử dụng trái phép các sáng chế/giải pháp hữu ích/phần mềm/giống cây trồng… của doanh nghiệp;

+ Chưa chú ý quản lý toàn diện các thông số của tập quyền sở hữu trí tuệ (IPR portfolio). Thí dụ: một Công ty sản xuất hàng tiêu dùng (fast moving consumer goods) sử dụng 50 nhãn hiệu (brand portfolio) để tiếp thị, nếu mỗi nhãn hiệu được đăng ký vào 5 nước khác nhau thì về lý thuyết, Công ty đang quản lý đến 250 Giấy Chứng nhận Đăng ký Nhãn hiệu (trademark portfolio), mỗi Giấy Chứng nhận có một số thông số thời gian khác nhau như ngày cấp văn bằng bảo hộ, ngày gia hạn hiệu lực… cần được theo dõi. Trong thực tế, nhiều doanh nghiệp hàng tiêu dùng Việt Nam đã bảo hộ trên 100 nhãn hiệu, trong đó, có nhiều nhãn hiệu đăng ký vào vài mươi nước khác nhau. Khi này, nếu không chú ý theo dõi để gia hạn kịp thời, một số Giấy Chứng nhận Đăng ký Nhãn hiệu có thể vô tình bị mất hiệu lực tại lãnh thổ bảo hộ liên quan;

+ Hoạt động bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ đã được xác lập tại Việt Nam còn nhiều mặt hạn chế, đặc biệt là vai trò của hệ thống Tòa án trong việc xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn mờ nhạt, lý luận về tố tụng sở hữu trí tuệ còn nghèo nàn. Việc giao thẩm quyền và trách nhiệm cho một số cơ quan hành chính (Quản lý Thị trường, Công an Kinh tế, Hải quan, …) phải xử lý cả các hành vi xâm phạm quyền (không phải là hành vi sản xuất hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ), đã đặt các công chức hành chính liên quan vào tình huống phải “suy diễn” quy phạm pháp luật (thí dụ, đánh giá khả năng xâm phạm quyền của hai nhãn hiệu tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhau), thay vì “chỉ thực hành theo những gì pháp luật quy định”. Một hệ quả là, trong một số tình huống nhất định, hai cơ quan có thẩm quyền xử lý như nhau thuộc hai hệ thống hành chính khác nhau hoặc hai địa phương khác nhau có thể có các suy diễn khác nhau về một vụ việc xung đột quyền giống nhau, khiến các quy phạm pháp luật (vốn về bản chất có tính rõ ràng và đơn nghĩa) có thể trở thành mù mờ và bất nhất. Vì vậy, một số doanh nghiệp lớn (nhất là các tập đoàn hàng tiêu dùng nước ngoài) thường bị xâm phạm quyền đã phải bố trí chức danh/bộ phận “bảo vệ nhãn hiệu/bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ” mà một trong những công việc chủ yếu của chức danh/bộ phận này là thiết lập, duy trì và củng cố “mối quan hệ” với các cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính về sở hữu trí tuệ trên phạm vi cả nước. Đó lại không phải là việc đơn giản đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ…;

+ Hệ thống tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu trí tuệ của Việt Nam hiện vẫn đang hoạt động chủ yếu theo cơ chế cạnh tranh lẫn nhau, chưa quan tâm đến việc phối hợp và phân công để cùng hình thành mũi nghiên cứu học thuật về pháp luật sở hữu trí tuệ của các khu vực và các quốc gia khác, góp phần hỗ trợ một cách có hệ thống cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam trong hoạt động xâm nhập thị trường hàng hóa/dịch vụ, kinh doanh tài sản trí tuệ và đầu tư quốc tế.

Ts Đào Minh Đức – Chuyên đề “Mô thức tố chức hoạt động quản trị tài sản sở hữu trí tuệ trong doanh nghiệp” – Sở khoa học và công nghệ tỉnh Vĩnh Long – Chương trình hỗ trợ pháp triển tài sản sở hữu trí tuệ trong doanh nghiệp