BÍ MẬT KINH DOANH LÀ GÌ ?

Nói theo nghĩa rộng, một thông tin kinh doanh bí mật bất kỳ mà tạo cho một doanh nghiệp lợi thế cạnh tranh đều có thể được coi là bí mật kinh doanh. Bí mật kinh doanh bao gồm các bí mật về công nghiệp hoặc sản xuất và bí mật thương mại. Việc sử dụng trái phép thông tin này bởi những người khác không phải là chủ sở hữu đều bị coi là thực tiễn không lành mạnh và xâm phạm bí mật kinh doanh. Phụ thuộc vào hệ thống pháp luật, việc bảo hộ bí mật kinh doanh tạo nên một phần của khái niệm chung của bảo hộ chống lại việc cạnh tranh không lành mạnh hoặc được dựa trên những điều khoản đặc biệt hoặc luật án lệ về bảo hộ thông tin bí mật.

Đối tượng của bí mật kinh doanh thường được xác định trong phạm vi rộng và bao gồm các phương pháp bán hàng, các phương pháp phân phối, các hồ sơ khách hàng, các chiến lược quảng cáo, các danh sách các nhà cung cấp và khách hàng, các quy trình sản xuất. Trong khi việc xác định cuối cùng xem thông tin nào tạo nên một bí mật kinh doanh sẽ phụ thuộc vào hoàn cảnh của từng trường hợp cá nhân cụ thể, thì một cách rõ ràng rằng thực tiễn không lành mạnh của thông tin bí mật bao gồm tình báo công nghiệp hoặc thương mại, vi phạm hợp đồng và vi phạm lòng tin.

o-COPYRIGHT-INFRINGEMENT-facebook-1024x512

BÍ MẬT KINH DOANH ĐƯỢC BẢO HỘ NHƯ THẾ NÀO ?

Trái với sáng chế, bí mật kinh doanh được bảo hộ không cần phải đăng ký, có nghĩa là bí mật kinh doanh được bảo hộ mà không cần bất cứ hình thức mang tính thủ tục nào. Bởi vậy, một bí mật kinh doanh có thể được bảo hộ vô thời hạn. Với những lý do này, việc bảo hộ bí mật kinh doanh có vẻ như đặc biệt hấp dẫn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên, có một số điều kiện để một thông tin được coi là bí mật kinh doanh. Thỏa mãn các điều kiện này có thể sẽ thấy khó và tốn kém hơn so với việc nhìn nhận ban đầu. Trong khi các điều kiện này khác nhau ở các quốc gia, thì có một số tiêu chuẩn chung được đề cập tới trong Điều 39 Hiệp định TRIPS:

  • Thông tin phải là bí mật (có nghĩa là không được biết đến một cách chung, hoặc sẵn có để có thể tiếp cận, với nhóm người thường xuyên xử lý loại thông tin được nói tới).
  • Phải có giá trị thương mại vì nó là một bí mật.
  • Phải là đối tượng để người nắm giữ hợp pháp thông tin đó giữ bí mật bằng những biện pháp hợp lý (ví dụ thông qua các hợp đồng bảo mật).

Ví dụ

Một doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển một quy trình để sản xuất sản phẩm của mình cho phép sản xuất ra hàng hóa với phương thức hiệu quả hơn về mặt chi phí. Quy trình này tạo cho doanh nghiệp một lợi thế cạnh tranh hơn các đối thủ của mình. Do vậy, doanh nghiệp này đã đánh giá bí quyết kỹ thuật của mình như một bí mật kinh doanh và không muốn để đối thủ cạnh tranh biết được nó. Phải đảm bảo rằng chỉ một số lượng hạn chế người biết về bí mật này, và những người được biết này phải nhận thức rằng đó là bí mật. Khi giao dịch với các bên thứ ba hoặc chuyển giao quyền sử dụng bí quyết kỹ thuật của mình, doanh nghiệp ký các hợp đồng bảo mật để đảm bảo rằng tất cả các bên biết thông tin đó là bí mật. Trong trường hợp này, việc chiếm đoạt thông tin bởi một đối thủ cạnh tranh hoặc của bên thứ ba bất kỳ đều bị coi là xâm phạm bí mật kinh doanh của doanh nghiệp.

CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA ĐƯỢC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA BẠN ÁP DỤNG

Các bí mật kinh doanh được sử dụng một cách rộng rãi bởi các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thực tế, nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ hầu như hoàn toàn dựa vào bí mật kinh doanh để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của mình (mặc dù trong nhiều trường hợp họ có thể thậm chí không nhận thức rằng bí mật kinh doanh được bảo hộ về mặt pháp lý). Vì vậy, điều quan trọng là phải đảm bảo rằng các doanh nghiệp đã áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết để bảo vệ bí mật kinh doanh của mình một cách hữu hiệu. Điều này bao gồm:

  • Thứ nhất, xem xét bí mật đó có khả năng bảo hộ theo sáng chế hay không, và nếu có thì việc bảo hộ theo sáng chế có tốt hơn không.
  • Thứ hai, chắc chắn rằng một số lượng người có hạn biết về bí mật đó và tất cả những người này đều phải nhận biết đó là thông tin mật.
  • Thứ ba, có các thỏa thuận về bảo mật trong các hợp đồng lao động. Tuy nhiên, theo pháp luật của nhiều nước, người lao động phải chịu trách nhiệm bảo mật với người sử dụng lao động thậm chí ngay khi không có các hợp đồng này. Trách nhiệm giữ bí mật của người sử dụng lao động thường được duy trì, ít nhất là trong một thời hạn xác định, thậm chí cả sau khi người làm lao động đã thôi việc.
  • Thứ tư, ký các hợp đồng bảo mật với các đối tác kinh doanh bất kể khi nào phải bộc lộ thông tin mật.

Sở Hữu Trí Tuệ Dành Cho Doanh Nghiệp – Tổ Chức Sở Hữu Trí Tụê Thế Giới (Wipo) – Bộ Phận Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ – Http://Www.Wipo.Int/Sme