ẢNH HƯỞNG CỦA QUY ĐỊNH VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG TPP TỚI

GIÁ DƯỢC PHẨM

Điều 18.37: Đối tượng được bảo hộ sáng chế.

  1. Theo khoản 3 và 4 và phù hợp với khoản 1, mỗi Bên khẳng định rằng bằng sáng chế có thể được cấp cho các sáng chế yêu cầu bảo hộ một trong các yếu tố sau: cách sử dụng mới của một sản phẩm đã biết, phương pháp sử dụng mới của một sản phẩm đã biết, hoặc quy trình sử dụng mới của một sản phẩm đã biết. Một Bên có thể hạn chế các quy trình sử dụng mới đó với những đối tượng không đòi hỏi việc sử dụng sản phẩm theo quy trình như vậy.”

Theo pháp luật Việt Nam hiện thành thì sáng chế được bảo hộ nếu đám ứng các tiêu chuẩn về tính mới, trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp. Theo đó, một sản phẩm thuốc gốc muốn bảo hộ độc quyền sáng chế tại Việt Nam bắt buộc phải có công thức khác biệt đối với những công thức cũ, và sự khác biệt đó một người có hiểu biết thông thường trong lĩnh vực điều chế dược không thực hiện được.

Tuy nhiên, nếu chúng ta tham gia TPP và đồng ý với điều 18.37 đồng nghĩa với việc Việt Nam đồng ý bảo hộ cho một sản phẩm thuốc mà không cần phải có các yếu tố trên, chỉ cần sản phẩm thuốc đã biết có một công dụng mới, cách sự dụng mới, … là có thể được cấp bằng độc quyền.

Hiện tại, doanh nghiệp dược phẩm Việt Nam không có khả năng chế tạo ra các loại thuốc mới mà chủ yếu mua license các sáng chế độc quyền của các tập đoàn dược phẩm tại các nước phát triển (hiện nay những tập đoàn dược phẩm lớn nhất đều của  Mỹ) hoặc sử dụng các sáng chế thuốc hết hạn bảo hộ độc quyền.

Nếu quy định trên được thông qua, các doanh nghiệp Mỹ có thể dễ dàng đưa ra một vài công dụng mới của thuốc, hoặc thêm một vài thành phần đã biết là có thể tiếp tục duy trì hiệu lực văn bằng độc quyền. Ví dụ: Thuốc A của công ty B có chức năng chữa bệnh nhức đầu đã được cấp văn bằng bảo hộ độc quyền sáng chế 20 năm. Được 16 năm công ty B tiếp tục đăng ký văn bằng độc quyền mới là thuốc A’ có thêm công dụng chữa thêm bệnh thiếu máu, hoặc thêm một thành phần bất kì không có tác dụng thì thuốc A’ này vẫn tiếp tục được độc quyền thêm 20 năm tiếp theo. Theo pháp luật Việt Nam hiện tại thì những trường hợp này sẽ bị từ chối bảo hộ.

Khi đó các tập đoàn dược phẩm của Mỹ sẽ liên tục được độc quyền sản xuất và mua bán sản phẩm thuốc này cũng như license cho công ty dược phẩm của Việt Nam. Điều này khiến doanh nghiệp Việt Nam sẽ thiệt hại nhiều về kinh tế, người dân Việt Nam phải sử dụng thuốc độc quyền với giá cao, người dân nghèo thì khó có cơ hội tiếp cận với các loại thuốc tốt. Trong khi nếu theo chính sách hiện tại thì hết thời hạn 20 năm độc quyền sáng chế thuốc trên, doanh nghiệp dược phẩm Việt Nam được tự do sản xuất và mua bán thuốc mà không phải mua quyền license. Chắc chắn trong trường hợp này giá thuốc sẽ giảm xuống và người dân Việt Nam sẽ được sử dụng thuốc với giá thấp hơn.

Hiện tại Mỹ đang là bên bảo vệ cho quy định này còn các nước kém hoặc đang phát triển trong khối tham gia đàm phán thì muốn bác bỏ quy định này. Việc quy định này có tiếp tục tồn tại hay không phụ thuộc khá nhiều vào việc Mỹ có tiếp tục tham gia TPP hay không.

Luật sư Phạm Thị Thoa – Apolat Legal